AP Chemistry
isomers

Đồng phân là những chất có cùng công thức phân tử nhưng khác nhau về cấu tạo nguyên tử nên mang tính chất khác biệt.
Trong hóa học, đồng phân (isomers) là những chất khác nhau nhưng lại có chung một công thức phân tử. Sự giống nhau về thành phần nguyên tố này thường gây nhầm lẫn cho người mới học, bởi họ cho rằng cùng công thức thì phải là cùng một chất. Tuy nhiên, cách các nguyên tử liên kết với nhau hoặc sắp xếp trong không gian mới là yếu tố quyết định nên bản chất của hợp chất. Chính sự khác biệt về cấu trúc đó tạo ra các chất riêng biệt với những tính chất vật lý và hóa học hoàn toàn khác nhau.
Khi xét đến cách nối kết giữa các nguyên tử, ta có đồng phân cấu tạo (structural isomers). Ở loại này, các nguyên tử được liên kết theo một trật tự hoàn toàn khác biệt. Ví dụ, cùng với công thức , butan là một mạch thẳng trong khi isobutan lại có mạch nhánh. Nhờ đó, dù chỉ chênh lệch về cách sắp xếp, hai chất này lại có nhiệt độ sôi và khối lượng riêng khác nhau. Ngược lại, nếu công thức và cả trật tự liên kết đều giống nhau nhưng hướng phân bố trong không gian lại khác, ta gọi đó là đồng phân lập thể.
Hệ quả của việc mang cấu tạo khác nhau là mỗi đồng phân sẽ tương tác với các tác nhân hóa học theo những cách riêng. Trong sinh học và y học, chỉ một đồng phân duy nhất của một phân tử thuốc mới có tác dụng chữa bệnh, trong khi đồng phân còn lại có thể gây độc. Vì vậy, việc nhận diện và gọi tên chính xác từng dạng cấu trúc là một kỹ năng nền tảng không thể thiếu khi nghiên cứu hóa hữu cơ.
Trực giác: Cùng một bộ lắp ráp Lego gồm đúng những mảnh giống nhau, nhưng người này lắp thành xe hơi còn người kia lại lắp thành máy bay trực thăng.
1830Jöns Jacob BerzeliusFriedrich WöhlerLouis Pasteur
Năm 1827, khi điều chế bạc xianat, Wöhler nhận ra chất này có thành phần nguyên tố trùng với một chất đã biết nhưng tính chất thì khác hẳn. Một năm sau, ông thấy urê (urea) và amoni xianat (ammonium cyanate) cũng cùng chung công thức. Vào thời đó, giới hóa học tin rằng thành phần quyết định chất, nên kết quả này gần như phá vỡ một niềm tin nền tảng. Berzelius vì vậy đặt tên riêng cho hiện tượng vào năm 1830. Mãi đến năm 1848, Louis Pasteur tách được hai dạng tinh thể axit tartric đối xứng gương, và đến năm 1860 ông nêu giả thuyết rằng các đồng phân chỉ khác nhau ở cách sắp xếp nguyên tử.
Đồng phân không phải một chất viết theo hai kiểu.
Nhiều học sinh nhầm đồng phân với các cấu trúc cộng hưởng (resonance structures), vốn chỉ là những cách vẽ khác nhau của cùng một phân tử mà thứ tự nối các nguyên tử giữ nguyên. Ở đồng phân, thứ tự nối hoặc cách sắp xếp trong không gian thực sự khác nhau, nên đó là hai chất riêng biệt: chúng tách được khỏi nhau, có nhiệt độ sôi, độ tan và enthalpy khác nhau. Vì vậy khi đề cho tồn tại ở hai dạng, phải hiểu đó là hai hợp chất, không phải hai hình vẽ của một hợp chất.
Cùng công thức phân tử không kéo theo cùng nhiệt độ sôi.
Một lỗi rất phổ biến là lập luận rằng n-butane và isobutane có cùng khối lượng mol nên lực liên phân tử như nhau và nhiệt độ sôi bằng nhau. Thực ra khối lượng chỉ là một yếu tố; hình dạng phân tử quyết định phần còn lại. Phân tử mạch thẳng trải dài nên diện tích tiếp xúc giữa các phân tử lớn hơn, lực phân tán London (London dispersion forces) mạnh hơn, do đó n-butane sôi cao hơn isobutane vốn có dạng gần cầu và tiếp xúc kém.
Không thể biến cis thành trans bằng cách quay quanh liên kết đôi.
Học sinh thường nghĩ hai đồng phân hình học (geometric isomers) của 2-butene chỉ là một chất nhìn từ hai phía, vì trong ankan các nhóm quay tự do quanh liên kết đơn. Tuy nhiên liên kết khoá sự quay lại, nên muốn chuyển đổi phải phá và tạo lại liên kết, tức là một phản ứng hoá học thật sự. Đó chính là lý do đề có thể viết cân bằng giữa hai dạng và gán cho nó một hằng số cân bằng.
Nồng độ một đồng phân tăng gấp đôi thì hằng số cân bằng vẫn giữ nguyên.
Với cân bằng ta có , và chỉ phụ thuộc nhiệt độ. Nhiều bài làm kết luận rằng nồng độ trans không đổi hoặc rằng tăng lên, cả hai đều sai. Vì tỉ số phải giữ nguyên, nếu nồng độ cis ở bình thứ hai gấp đôi bình thứ nhất thì nồng độ trans cũng phải gấp đôi; nói cách khác, là công cụ giải nhanh cho mọi câu dạng này.
Quiz câu thật từ ngân hàng đề
Vài câu thật gắn đúng khái niệm này, chấm ngay kèm giải thích từng đáp án — hệ thống ghi nhớ bạn nắm tới đâu.
Biên soạn bởi DucklingStudy, bản quyền thuộc DucklingStudy. Xuất bản .
Vì sao mang đúng cái tên này? Tên gọi bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp: "isos" nghĩa là bằng nhau và "meros" nghĩa là phần, ghép lại thành "isomeres" — "có những phần bằng nhau". Cái tên mô tả đúng điều làm các nhà hóa học đầu thế kỷ 19 bối rối: hai chất có cùng số lượng và cùng loại nguyên tử, tức là "những phần" cấu thành hoàn toàn bằng nhau, nhưng lại sắp xếp khác đi nên cho ra hai chất khác nhau. Dạng tiếng Anh đi vòng qua tiếng Đức "isomerisch" rồi mới xuất hiện trong tiếng Anh khoảng năm 1831. Về sau, tiền tố "iso-" tiếp tục sinh ra hàng loạt tên gọi phái sinh cho từng kiểu khác biệt, chẳng hạn đồng phân cấu tạo (structural isomers) là những chất chỉ khác nhau ở thứ tự nối các nguyên tử.
Xoay cis-1,2-dichloroethene — đếm nguyên tử không đổi, nhưng cách nối thì đổi hẳn
Kéo tham số, thấy khái niệm chuyển động — mở khoá bằng tài khoản 0đ.
Khi đề ghi "include all atoms", phải vẽ đủ mọi nguyên tử H và mọi liên kết.
Công thức khung hoặc công thức thu gọn kiểu thường không được chấm điểm ở câu yêu cầu structural formula. Hãy vẽ bộ khung carbon trước, rồi thêm hydrogen cho đủ bốn liên kết quanh mỗi carbon, và viết nhãn tên chất ngay dưới mỗi hình vì đề luôn yêu cầu "clearly label".
So sánh nhiệt độ sôi thì phải gọi tên lực liên phân tử, đừng chỉ nói "phân nhánh nên sôi thấp hơn".
Một câu trả lời đầy đủ đi theo ba nhịp: nêu hình dạng phân tử, suy ra diện tích tiếp xúc và độ mạnh của lực phân tán, rồi kết luận về năng lượng cần cung cấp để hoá hơi. Nếu hai đồng phân khác nhau về độ phân cực, chẳng hạn cis- và trans-1,2-dichloroethene, hãy nhắc thêm rằng dạng cis có momen lưỡng cực khác không nên có thêm tương tác lưỡng cực – lưỡng cực (dipole-dipole).
Với cân bằng giữa hai đồng phân, hãy viết biểu thức ra giấy trước khi thay số.
Vì hệ số của cả hai chất đều bằng 1, biểu thức chỉ là một tỉ số nồng độ và không có đơn vị, nên đừng mất thời gian nhân chia thể tích. Khi đề cho bảng nồng độ đầu và nồng độ cân bằng, lượng chất đầu giảm đúng bằng lượng sản phẩm tạo thành theo tỉ lệ 1:1; kiểm tra lại điều đó là cách nhanh nhất để phát hiện số liệu mình đọc nhầm.
n-Butane là mạch thẳng , isobutane là mạch nhánh ; cả hai cùng công thức nên là đồng phân của nhau. n-Butane có nhiệt độ sôi cao hơn ( so với ) vì hình dạng mạch thẳng cho diện tích tiếp xúc lớn hơn, làm lực phân tán London giữa các phân tử mạnh hơn.
Số liệu nhất quán vì lượng Y mất đi () bằng lượng Z sinh ra (), và . Khi xuất phát từ , cân bằng đạt được tại và . Về tính chất vật lý, đồng phân cis (Y) có nhiệt độ sôi cao hơn vì phân tử phân cực nên có thêm lực lưỡng cực–lưỡng cực, còn đồng phân trans (Z) không phân cực.