AP Chemistry
ionic compound
Còn gọi: ionic compounds · hợp chất tạo bởi ion

Hợp chất ion là hợp chất được tạo thành từ các cation và anion liên kết với nhau bằng lực hút tĩnh điện.
Hợp chất ion là hợp chất được cấu tạo từ các ion dương mang điện tích dương và các ion âm mang điện tích âm. Lực giữ các ion lại với nhau là lực hút tĩnh điện giữa những điện tích trái dấu, được gọi là liên kết ion. Độ lớn của lực hút này phụ thuộc vào điện tích các ion và khoảng cách giữa chúng, thể hiện qua hệ thức:
Trong đó , là điện tích của hai ion và là khoảng cách giữa chúng. Do lực hút càng mạnh khi điện tích càng lớn và khoảng cách càng nhỏ, các ion sắp xếp chặt chẽ theo một trật tự lặp lại trong không gian ba chiều, nhờ đó tạo nên mạng tinh thể vững chắc.
Liên kết ion thường hình thành khi nguyên tử của kim loại nhường electron ngoài cùng cho nguyên tử của phi kim. Nguyên nhân là vì kim loại có năng lượng ion hóa (ionization energy) thấp nên dễ mất các electron ngoài cùng để trở thành ion dương, trong khi phi kim có độ âm điện (electronegativity) lớn nên dễ nhận thêm các electron đó để trở thành ion âm. Nhờ vậy, cả hai ion đều đạt cấu hình electron bền vững giống khí hiếm. Tuy nhiên, trên thực tế liên kết ion và liên kết cộng hóa trị (covalent bond) nằm trên một phổ liên tục, bởi hiệu độ âm điện giữa hai nguyên tử càng lớn thì tính ion của liên kết càng cao.
Vì các ion bị giam chặt tại các nút mạng tinh thể nên hợp chất ion thường là chất rắn ở điều kiện thường, đồng thời có nhiệt độ nóng chảy và nhiệt độ sôi cao. Ở trạng thái rắn, các ion không thể di chuyển tự do do đó chất rắn ion không dẫn điện; tuy nhiên, khi hòa tan vào nước hoặc nấu chảy, mạng tinh thể bị phá vỡ và các ion được giải phóng, di chuyển tự do, nhờ đó hệ trở thành chất dẫn điện. Chính vì lí do này, hợp chất ion tan trong nước được xếp vào nhóm chất điện li (electrolyte).
Trực giác: Hãy tưởng tượng những viên bi tích điện: một nhóm mang điện dương hoàn toàn, một nhóm mang điện âm hoàn toàn, chúng hút chặt lấy nhau thành mạng lưới — phải đun rất nóng mới phá được lực hút giữa các trái dấu đó.
1834Michael FaradaySvante ArrheniusHumphry Davy
Suốt thế kỷ 19, người ta đã biết một điều kỳ lạ: nước tinh khiết dẫn điện rất kém, nhưng chỉ cần hòa tan muối, axit hay bazơ vào thì dung dịch dẫn điện dễ dàng, và dòng điện lại có thể tách chất tan đó thành các thành phần ban đầu. Trong thập niên 1830, Faraday dành nhiều thời gian thí nghiệm với dòng điện và nhận ra rằng một số hợp chất — ông gọi chúng là chất điện li (electrolyte) — bị phân tách khi cho dòng điện chạy qua, quá trình nay mang tên điện phân (electrolysis). Ông đặt tên cho các mảnh mang điện đó vào năm 1834. Nhưng vì sao và bằng cách nào thì phải chờ đến Arrhenius.
Công thức hợp chất ion là tỉ lệ tối giản, không phải phân tử.
không mô tả một phân tử riêng lẻ mà chỉ cho biết cứ 2 ion thì có 3 ion trong mạng tinh thể. Vì vậy đơn vị đúng để nói tới là đơn vị công thức (formula unit), và khi tính từ phân tích nguyên tố ta luôn quy về tỉ lệ mol tối giản. Nói "phân tử " là sai bản chất.
Cation kim loại mất electron ở lớp ngoài cùng, không phải ở phân lớp d trước.
Với kim loại chuyển tiếp, electron bị lấy đi đầu tiên là electron chứ không phải , vì electron hóa trị nằm xa hạt nhân nhất nên dễ bị tách nhất. Do đó có cấu hình , không có electron . Viết nhầm thứ tự này là mất điểm ngay ở câu cấu hình electron.
Anion không đổi điện tích hạt nhân khi nhận electron.
Nhiều bạn nghĩ "giống hệt" neon nên vẽ phổ quang điện tử (photoelectron spectrum) trùng khít với neon. Hai ion đúng là đẳng electron (isoelectronic) với cùng 10 electron, nhưng oxygen chỉ có 8 proton nên lực hút yếu hơn hẳn. Kết quả là đỉnh của nằm ở năng lượng ion hóa thấp hơn của rõ rệt.
Liên kết ion không phải là "cho hẳn electron rồi thôi".
Bản chất giữ hợp chất lại với nhau là lực hút tĩnh điện giữa các ion trái dấu trong toàn mạng tinh thể, chứ không phải một cặp electron dùng chung. Vì vậy khi giải thích nhiệt độ nóng chảy cao hay tính dẫn điện khi nóng chảy, phải nói tới độ lớn điện tích và khoảng cách giữa các ion. Trả lời bằng "chúng cho nhau electron" không đủ để được điểm.
Quiz câu thật từ ngân hàng đề
Vài câu thật gắn đúng khái niệm này, chấm ngay kèm giải thích từng đáp án — hệ thống ghi nhớ bạn nắm tới đâu.
Biên soạn bởi DucklingStudy, bản quyền thuộc DucklingStudy. Xuất bản .
Vì sao mang đúng cái tên này? Tên gọi của nhóm chất này không xuất phát từ hình dạng hay tính chất bề ngoài, mà từ đúng thứ cấu tạo nên chúng: các ion. Đây là từ Faraday đặt năm 1834 để chỉ những phần mang điện mà chất điện li tách ra khi bị điện phân, nên ngay từ đầu cái tên đã gắn liền với hiện tượng dẫn điện chứ không phải với tinh thể rắn. Năm 1884, Arrhenius đưa ra lời giải thích cho câu hỏi vì sao dung dịch muối lại dẫn điện, và từ đó ion trở thành một thực thể hóa học chứ không còn là sản phẩm phụ của phòng thí nghiệm điện. Điều thú vị là nhiều hợp chất ion quen thuộc lại mang tên có gốc gác cũ hơn hẳn: năm 1807, Humphry Davy tách được kali bằng điện phân và gọi nó là potassium, lấy từ pot ash — tro cây hòa trong nước đựng trong nồi, cách người xưa thu muối kali. Vì vậy, tên riêng của từng chất kể lại lịch sử điều chế, còn chữ ion trong tên chung thì kể lại lịch sử của dòng điện.
Khi đề hỏi loại liên kết, viết ra tiêu chí kim loại–phi kim rồi mới kết luận.
Giám khảo cần thấy lập luận: kim loại nhường electron tạo cation, phi kim nhận electron tạo anion, hai ion trái dấu hút nhau bằng lực tĩnh điện. Chỉ ghi "ionic" mà không nêu lý do thường chỉ được điểm một phần.
Bài phân tích nguyên tố phải trình bày đủ ba bước: khối lượng, số mol, tỉ lệ tối giản.
Chia khối lượng mỗi nguyên tố cho khối lượng mol, rồi chia cả hai số mol cho số nhỏ hơn để ra tỉ lệ nguyên. Bỏ bước chia này là lỗi mất điểm phổ biến nhất, vì đáp số cuối đúng nhưng phần "show your work" bị trừ.
So sánh phổ quang điện tử thì luôn nêu số proton, đừng chỉ nêu số electron.
Với hai loài đẳng electron, loài nào nhiều proton hơn thì mọi đỉnh dịch sang phía năng lượng cao hơn. Câu chốt nên viết rõ: có 13 proton còn chỉ có 8, nên đỉnh của nhôm nằm cao hơn hẳn.
Cả và đều có cấu hình , nên trên phổ quang electron hai đỉnh cao như nhau nhưng đỉnh của nằm ở năng lượng liên kết lớn hơn nhiều vì hạt nhân của nó có proton thay vì . Cũng chính điện tích lớn ấy giải thích nhiệt độ nóng chảy: trong các ion mang điện và lại nằm gần nhau hơn, nên lực hút tĩnh điện và năng lượng mạng tinh thể lớn hơn hẳn , đòi hỏi nhiều nhiệt hơn để phá vỡ mạng.
Bột trắng là (copper(I) chloride) với ion , còn bột nâu là (copper(II) chloride) với ion . Kết quả phân tích nguyên tố chỉ đủ để trả lời câu hỏi về tỉ lệ số ion và trong mỗi hợp chất; nó không giải thích được vì sao một chất trắng còn chất kia nâu.