AP Chemistry
electron subshell
Còn gọi: phân lớp · subshell · electron subshells · phân lớp vỏ electron · phân mức năng lượng · subshell (sublevel)

Phân lớp electron là nhóm các orbital cùng nằm trong một lớp electron và cùng dạng hình học (s, p, d, f), có năng lượng bằng nhau.
Mỗi lớp êlectron trong nguyên tử (atom) không phải là một khối đồng nhất mà còn được chia nhỏ thêm một bậc nữa. Cụ thể, các obitan thuộc cùng một lớp nhưng khác hình dạng thì cũng khác nhau về năng lượng, và mỗi nhóm obitan cùng hình dạng như vậy hợp thành một phân lớp êlectron. Tiếp theo, người ta đánh dấu phân lớp bằng số lượng tử phụ , với quy ước tương ứng với các ký hiệu , , , . Do đó, lớp thứ chứa đúng phân lớp, chẳng hạn lớp gồm , và .
Kế đến, số obitan trong một phân lớp được xác định bởi , nghĩa là phân lớp có một obitan, phân lớp có ba, còn phân lớp có năm. Hơn nữa, vì nguyên lý loại trừ Pauli chỉ cho phép tối đa hai êlectron ngược chiều spin trên mỗi obitan, sức chứa của một phân lớp là êlectron, tức , , , cho , , , . Chính các con số này giải thích vì sao bảng tuần hoàn có khối rộng hai cột, khối sáu cột và khối mười cột. Cuối cùng, khi các êlectron lần lượt điền vào cùng một phân lớp, chúng phân bố mỗi obitan một êlectron trước rồi mới ghép đôi theo quy tắc Hund (Hund's rule).
Ngoài ra, trong nguyên tử nhiều êlectron, hiệu ứng chắn làm các phân lớp cùng lớp tách hẳn về năng lượng: , và thứ tự điền gần đúng tuân theo tổng nhỏ trước. Vì vậy, mức được điền trước , một chi tiết thường xuất hiện trong đề. Hệ quả quan trọng nhất là mỗi phân lớp ứng với một năng lượng ion hóa (ionization energy) riêng, nên phổ quang êlectron cho ta các đỉnh tách biệt với chiều cao tỉ lệ số êlectron trong phân lớp đó.
Trực giác: Lớp electron giống một tầng của tòa nhà, còn phân lớp là các loại phòng khác nhau trên cùng tầng đó — phòng s chỉ có 1 phòng đơn, phòng p có 3 phòng đơn, phòng d có 5 phòng đơn, mỗi phòng đơn chứa đúng hai người.
Dùng để tính số orbital nguyên tử có trong một phân lớp, trong đó là số lượng tử góc (angular momentum quantum number) xác định hình dạng phân lớp đó.
Trong đó
Dùng để tính số electron tối đa mà một phân lớp có thể chứa, xuất phát từ việc mỗi orbital trong phân lớp chứa tối đa hai electron có spin ngược nhau.
Trong đó
1923–1925Charles BarklaHenry MoseleyNiels BohrEdmund StonerWolfgang Pauli
Phân lớp không phải lớp electron.
Lớp electron (shell) ứng với số lượng tử chính , còn phân lớp là các nhóm nhỏ bên trong lớp đó, ký hiệu , , , . Lớp chứa ba phân lớp , , với sức chứa lần lượt 2, 6, 10 electron. Vì vậy khi đề hỏi "electron ở lớp ngoài cùng" của Ca thì đáp án là 2 electron ở , không phải cộng gộp cả .
Thứ tự điền electron không trùng thứ tự viết cấu hình.
Electron điền vào trước vì thấp năng lượng hơn khi phân lớp còn trống, nhưng cấu hình của Fe phải viết theo tăng dần: . Ngược lại, khi ion hóa kim loại chuyển tiếp, electron rời khỏi trước, nên Fe²⁺ là chứ không phải . Đây là chỗ mất điểm quen thuộc ở câu viết cấu hình ion.
Electron cùng một phân lớp vẫn không hoàn toàn cùng năng lượng trong nguyên tử nhiều electron.
Do hiệu ứng chắn (shielding) và độ xuyên thấu khác nhau, electron bị hút mạnh hơn nên năng lượng ion hóa lấy từ nhỏ hơn. Chính chi tiết này giải thích vì sao năng lượng ion hóa thứ nhất của B thấp hơn Be, một bất thường mà đề rất hay hỏi. Nếu chỉ nhớ "cùng lớp thì cùng năng lượng" thì không giải thích nổi.
Phổ quang electron (PES) đọc theo phân lớp, không đọc theo lớp.
Mỗi đỉnh trên phổ ứng với một phân lớp, và chiều cao đỉnh tỉ lệ với số electron trong phân lớp đó. Do đó nguyên tử oxygen cho ba đỉnh với tỉ lệ chiều cao tương ứng , , , chứ không phải hai đỉnh theo hai lớp. Đếm nhầm số đỉnh là lỗi phổ biến nhất ở dạng bài này.
Quiz câu thật từ ngân hàng đề
Vài câu thật gắn đúng khái niệm này, chấm ngay kèm giải thích từng đáp án — hệ thống ghi nhớ bạn nắm tới đâu.
Biên soạn bởi DucklingStudy, bản quyền thuộc DucklingStudy. Xuất bản .
Đầu thế kỷ 20, khi bắn tia X vào các nguyên tố, các nhà thực nghiệm thấy sự hấp thụ xảy ra ở những ngưỡng năng lượng rời rạc và ngưỡng ấy tăng dần theo nguyên tố nặng hơn. Điều đó gợi ý rằng electron nằm trong những lớp có sức chứa giới hạn, và tia X phát ra khi electron nhảy về lớp thấp hơn. Từ năm 1913 đến 1925, nhiều nhà hóa học cùng một số nhà vật lý tiếp tục công việc xếp electron vào các lớp. Năm 1923, Stoner đưa ra quy tắc lớp thứ chứa electron; hai năm sau Pauli bổ sung số lượng tử thứ tư là spin, hoàn tất bức tranh.
Vì sao mang đúng cái tên này? Chữ "vỏ" trong lớp electron đến thẳng từ mô hình Bohr: người ta hình dung từng nhóm electron quay quanh hạt nhân ở những khoảng cách xác định, nên quỹ đạo của chúng tạo thành các lớp bao quanh hạt nhân như những lớp vỏ. Vì vậy khi mô hình cần chi tiết hơn, mỗi lớp lại được chẻ nhỏ thành phân lớp — tức là phần chia nhỏ bên trong một lớp, gồm các orbital cùng số lượng tử moment động lượng (angular momentum quantum number) , trong khi cả lớp thì cùng một số lượng tử chính (principal quantum number) . Còn dãy ký hiệu K, L, M, N, O, P, Q dùng cho các lớp thì không mang ý nghĩa vật lý nào cả: nguồn gốc của nó thuần túy là thứ tự bảng chữ cái. Barkla, khi nghiên cứu tán xạ tia X độc lập với Moseley, năm 1909 phân biệt được hai kiểu tán xạ và ban đầu gọi chúng là "A" và "B"; về sau ông chuyển sang đặt tên K, L, M…, trong đó K được để dành cho những vạch phổ giả định mà rốt cuộc chưa bao giờ tìm thấy. Do đó, cái tên nghe có vẻ tùy tiện này thực ra là dấu vết của một dự đoán bị bỏ lửng, và các chữ cái ấy sau này được đối chiếu tương ứng với , vẫn còn sống trong ký hiệu phổ học Siegbahn ngày nay.
Khi trả lời PES, hãy viết rõ đỉnh nào ứng với phân lớp nào.
Giám khảo cho điểm khi thí sinh nối được năng lượng ion hóa lớn với phân lớp gần hạt nhân, ví dụ đỉnh ở khoảng 100 MJ/mol là . Nêu thêm chiều cao đỉnh để suy ra số electron thì lập luận mới trọn vẹn. Chỉ ghi tên nguyên tố mà không giải thích thì gần như chắc chắn mất điểm.
Muốn giải thích xu hướng năng lượng ion hóa, phải nói tới phân lớp và điện tích hạt nhân hiệu dụng.
Câu trả lời đạt điểm thường có ba ý: electron bị tách nằm ở phân lớp nào, khoảng cách tới hạt nhân, và mức chắn của các electron bên trong. Viết đủ ba ý này rồi mới kết luận cao hay thấp. Nói suông "vì nó bền hơn" không được tính.
Phổ gồm năm đỉnh vì lưu huỳnh có electron nằm trên đúng năm phân lớp: với . Vị trí mỗi đỉnh phản ánh độ chặt của liên kết giữa electron và hạt nhân, còn chiều cao phản ánh số electron trong phân lớp đó; riêng khoảng cách giữa đỉnh và đỉnh chứng tỏ trong nguyên tử nhiều electron, các phân lớp của cùng một lớp không còn cùng mức năng lượng.
Chỗ gãy của xu hướng tại nhôm không phải là ngoại lệ vô cớ mà là hệ quả trực tiếp của cấu trúc phân lớp: Mg mất một electron còn Al mất một electron có năng lượng cao hơn và được chắn tốt hơn, nên 578 kJ/mol nhỏ hơn 738 kJ/mol. Khi hai nguyên tố cùng tách electron từ một phân lớp, như Al và Si, xu hướng tăng theo chu kì lập tức trở lại. Bài học rút ra là mỗi lần so sánh năng lượng ion hóa, việc đầu tiên phải làm là xác định electron bị tách nằm ở phân lớp nào.