AP Chemistry
composition
Còn gọi: thành phần · cấu tạo chất

Thành phần cấu tạo là các nguyên tố hoặc chất tạo nên một mẫu vật cùng với tỉ lệ tương đối của chúng.
Trong hóa học, mọi vật chất đều được hình thành từ các nguyên tố hoặc hợp chất. Thành phần cấu tạo (composition) cho biết những chất nào hiện diện trong mẫu vật và chiếm bao nhiêu phần trăm so với tổng khối lượng. Nhờ đó, nhà hóa học có thể phân loại vật chất và dự đoán các tính chất lý hóa đặc trưng.
Vì vậy, với chất tinh khiết, thành phần này luôn cố định theo định luật tỉ lệ bất biến. Chẳng hạn, nước nguyên chất luôn chứa hai nguyên tử hydro liên kết với một nguyên tử oxy theo tỉ lệ khối lượng duy nhất. Ngược lại, hỗn hợp có thành phần thay đổi, bởi các chất chỉ trộn lẫn vật lý chứ không liên kết hóa học (chemical bond) theo tỉ lệ bắt buộc.
Chính vì thế, xác định thành phần cấu tạo là nền tảng để thiết lập công thức thực nghiệm (empirical formula) và công thức phân tử. Ta dùng công thức phần trăm khối lượng: trong đó là số mol nguyên tố trong một mol hợp chất, là khối lượng mol của nguyên tố, còn là khối lượng mol của hợp chất. Do đó, từ phần trăm khối lượng đo được, nhà hóa học suy ra tỉ lệ số mol và viết được công thức hóa học thu gọn nhất.
Trực giác: Giống như việc đọc nhãn dinh dưỡng trên vỏ hộp sữa để biết trong đó có bao nhiêu gam chất béo, đường hay protein, thành phần cấu tạo cho biết "công thức" tạo nên vật chất.
Dùng khi cần xác định phần trăm khối lượng của một nguyên tố trong hợp chất, hoặc khi cần tìm công thức thực nghiệm từ dữ liệu phân tích thành phần.
Trong đó
Phần trăm thành phần được tính theo khối lượng, không theo số nguyên tử.
Khi đề cho công thức và hỏi phần trăm khối lượng (percent composition) của carbon, nhiều học sinh lấy vì đếm được 9 nguyên tử trong phân tử. Cách làm đúng là nhân số nguyên tử với khối lượng mol nguyên tố rồi chia cho khối lượng mol chất: , tức là so sánh phần khối lượng do carbon đóng góp với tổng khối lượng phân tử. Do đó nguyên tố nhẹ như hydrogen luôn chiếm phần trăm khối lượng nhỏ hơn nhiều so với tỉ lệ số nguyên tử của nó.
Công thức thực nghiệm chỉ cho tỉ lệ tối giản, không cho thành phần thật của phân tử.
Từ dữ liệu phần trăm khối lượng, phép chia số mol cho số mol nhỏ nhất chỉ dẫn tới công thức thực nghiệm (empirical formula) như ; muốn có công thức phân tử phải biết thêm khối lượng mol thực nghiệm rồi lấy tỉ số . Nếu tỉ số đó bằng 6 thì chất là glucose , còn nếu bằng 1 thì là formaldehyde. Vì vậy khi đề không cho khối lượng mol, đáp án buộc phải dừng ở công thức thực nghiệm, và viết thêm công thức phân tử là tự đoán.
Chất xúc tác và chất trung gian đều xuất hiện trong cơ chế nhưng không thuộc thành phần của phương trình tổng.
Ở cơ chế phân hủy , bị tiêu thụ ở bước 1 rồi được tái tạo ở bước cuối nên nó là chất xúc tác (catalyst); ngược lại và sinh ra rồi bị tiêu thụ nên là chất trung gian (intermediate). Khi cộng các bước lại, cả hai loại này triệt tiêu và chỉ còn . Học sinh hay nhầm hai loại này với nhau: hãy nhìn thứ tự — xuất hiện ở vế trái TRƯỚC rồi quay lại ở vế phải là xúc tác, còn sinh ra trước rồi mới bị dùng là trung gian.
Oxygen không phải lúc nào cũng có số oxi hóa .
Thành phần và cách liên kết trong hợp chất quyết định số oxi hóa: trong mỗi oxygen là vì có một liên kết O–O không phân cực, còn trong đơn chất thì bằng theo quy tắc dành cho nguyên tố tự do. Đây chính là lý do phản ứng là phản ứng oxi hóa – khử, với oxygen vừa bị oxi hóa lên vừa bị khử xuống . Nếu áp máy móc quy tắc , bạn sẽ kết luận sai rằng không có nguyên tố nào đổi số oxi hóa.
Quiz câu thật từ ngân hàng đề
Vài câu thật gắn đúng khái niệm này, chấm ngay kèm giải thích từng đáp án — hệ thống ghi nhớ bạn nắm tới đâu.
Biên soạn bởi DucklingStudy, bản quyền thuộc DucklingStudy. Xuất bản .
Đổi bảng từ khối lượng sang phần trăm cột — xem hai mẫu nước trùng khít nhau
Kéo tham số, thấy khái niệm chuyển động — mở khoá bằng tài khoản 0đ.
Trong bài tự luận, phải viết ra từng bước tính chứ không chỉ ghi đáp số.
Đề luôn nhắc rõ rằng phải trình bày phương pháp mới được điểm, nên với bài xác định thành phần hãy viết đủ chuỗi: khối lượng số mol chia cho số mol nhỏ nhất tỉ lệ nguyên. Mỗi bước kèm đơn vị và một con số cụ thể; giám khảo chấm theo từng ý nên ngay cả khi tỉ lệ cuối sai, các bước trước vẫn ăn điểm. Ngược lại, một đáp số đúng trơ trọi thường chỉ được rất ít điểm.
Khi tỉ lệ mol ra số lẻ như 1.5 hay 1.33, hãy nhân lên chứ đừng làm tròn.
Sai lầm mất điểm phổ biến nhất trong bài xác định công thức là ép thành ; đúng ra phải nhân cả bộ tỉ lệ với 2 (hoặc 3 với ) để được số nguyên. Chỉ làm tròn khi con số đã rất gần số nguyên, cỡ trong khoảng , vì sai lệch đó đến từ khối lượng mol chứ không phải từ tỉ lệ thật.
Với câu hỏi về cơ chế, hãy cộng các bước lại trên giấy nháp trước khi chọn đáp án.
Việc cộng giúp bạn thấy ngay chất nào triệt tiêu, từ đó phân biệt chất xúc tác với chất trung gian và viết đúng phương trình tổng. Nếu đề yêu cầu giải thích, câu trả lời cần nêu rõ chất đó bị tiêu thụ ở bước nào và được tái tạo ở bước nào — chỉ viết "nó là chất xúc tác" mà không dẫn ra hai bước cụ thể thường không đủ để lấy trọn điểm.
Oxide gồm calcium và oxygen theo khối lượng; khối lượng mol của bằng nên là calcium và sản phẩm là . Khi dùng calcium, thí nghiệm cho oxide, vì thành phần phần trăm không phụ thuộc lượng chất đem cân.
Hợp chất có công thức đơn giản nhất và công thức phân tử ; trong hợp chất có carbon. Kết quả cho thấy dữ liệu phần trăm chỉ đủ để xác định tỉ lệ nguyên tử, còn muốn biết phân tử thật sự lớn cỡ nào thì bắt buộc phải có thêm khối lượng mol.