AP Chemistry
entropy change
Còn gọi: ΔS° · delta S · độ biến thiên entropy · standard entropy change · biến thiên entropy chuẩn

Biến thiên entropy là hiệu entropy trạng thái cuối trừ trạng thái đầu, đo mức phân tán năng lượng và vật chất trong quá trình.
Biến thiên entropy chuẩn, kí hiệu , là hiệu giữa tổng entropy mol chuẩn của sản phẩm và tổng entropy mol chuẩn của chất đầu trong một quá trình. Công thức tổng quát cho phản ứng hóa học (chemical reactions) là:
Trong đó và lần lượt là hệ số tỉ lượng của sản phẩm và chất đầu. Nhờ công thức này, ta có thể tính của bất kì phản ứng nào, miễn là biết entropy mol chuẩn của mỗi chất tham gia và tạo thành.
Về mặt vật lí, giá trị dương ứng với quá trình mà năng lượng và vật chất phân tán rộng hơn, chẳng hạn khi chất rắn chuyển sang lỏng hay khí, hoặc khi số mol khí tăng lên sau phản ứng. Ngược lại, âm cho thấy hệ trở nên trật tự hơn, ví dụ khi khí ngưng tụ thành lỏng. Đối với chuyển pha (phase change) thuận nghịch ở nhiệt độ không đổi, công thức rút gọn thành , trong đó là nhiệt trao đổi trong quá trình thuận nghịch còn là nhiệt độ tuyệt đối.
Theo nguyên lí thứ hai của nhiệt động lực học, mọi quá trình tự diễn biến đều làm tăng entropy của vũ trụ (universe), tức là của cả hệ lẫn môi trường xung quanh. Do đó, biến thiên entropy chuẩn của riêng hệ tuy quan trọng nhưng chưa đủ để kết luận một phản ứng có tự xảy ra hay không, mà ta còn phải xét thêm biến thiên enthalpy thông qua năng lượng tự do Gibbs. Tuy nhiên, khi số mol khí tăng mạnh thì giá trị dương thường đóng vai trò chủ đạo, nhờ vậy quá trình được thúc đẩy diễn ra theo chiều thuận.
Trực giác: Hãy tưởng tượng bạn mở một lọ nước hoa giữa phòng kín: mùi hương từ chỗ tập trung lan toả ra khắp không gian, và entropy chính là thước đo sự lan toả đó.
Dùng để tính biến thiên entropy chuẩn của một phản ứng hóa học ở 25°C và 1 atm dựa trên entropy mol chuẩn của các chất trong bảng dữ liệu nhiệt động.
Trong đó
1865Rudolf ClausiusSadi CarnotLudwig BoltzmannWillard Gibbs
Đếm tổng số mol chất chứ không đếm riêng số mol khí là lỗi phổ biến nhất.
Khi dự đoán dấu của , chất khí chiếm ưu thế tuyệt đối vì mỗi mol khí có số vi trạng thái lớn hơn hẳn một mol chất lỏng hay chất rắn. Vì vậy phản ứng có dù tổng số mol giảm từ 7 xuống 6, đơn giản vì vế trái không có khí còn vế phải sinh ra 1 mol khí. Ngược lại, khi số mol khí bên trái lớn hơn bên phải thì , bất kể các chất tan hay chất rắn thay đổi thế nào. Quy tắc làm bài: khoanh tròn mọi chất mang ký hiệu trước, chỉ khi hai vế bằng nhau về số mol khí mới xét đến trạng thái tập hợp (physical state) của các chất còn lại.
Entropy chuẩn của đơn chất KHÔNG bằng 0.
Nhiều học sinh mang thói quen từ sang, thấy hay là gạch đi cho nhanh, và mất trọn điểm tính toán. Bảng số liệu cho entropy chuẩn tuyệt đối (standard molar entropy), một đại lượng đo từ mốc 0 K theo định luật thứ ba của nhiệt động lực học (third law of thermodynamics), nên mọi chất ở đều có . Do đó luôn phải thay đủ mọi số hạng vào trong đó là hệ số cân bằng của từng chất. Bỏ sót hệ số hay bỏ sót đơn chất đều dẫn đến sai dấu chứ không chỉ sai số.
Hòa tan chất rắn ion làm tăng số hạt, nên thường dương.
Khi phân li thành và , một hạt ở mạng tinh thể trật tự trở thành hai ion chuyển động tự do trong dung dịch, và số cách sắp xếp năng lượng tăng lên rõ rệt. Đề thường kèm sơ đồ hạt (particle diagram) để bạn đếm trực tiếp: đếm số hạt độc lập ở vế trái so với vế phải rồi viết hẳn con số đó ra. Tuy nhiên đừng biến điều này thành quy tắc máy móc, vì với một số ion nhỏ điện tích lớn, sự sắp xếp chặt của các phân tử nước quanh ion có thể kéo entropy xuống; ở mức AP, lập luận theo số hạt và trạng thái tập hợp là đủ.
Dấu của không suy ra được từ dấu của .
Phản ứng tỏa nhiệt không hề "trật tự hơn", và phản ứng thu nhiệt cũng không tự động làm entropy tăng; hai đại lượng này trả lời hai câu hỏi khác nhau và được tính từ hai bảng số liệu khác nhau. Sự lẫn lộn thường lộ ra ở câu hỏi về tính tự diễn biến, khi học sinh kết luận "tỏa nhiệt nên tự xảy ra" mà quên số hạng trong . Hãy xác định dấu của và một cách độc lập, sau đó mới ghép lại để bàn về khoảng nhiệt độ mà .
Quiz câu thật từ ngân hàng đề
Vài câu thật gắn đúng khái niệm này, chấm ngay kèm giải thích từng đáp án — hệ thống ghi nhớ bạn nắm tới đâu.
Biên soạn bởi DucklingStudy, bản quyền thuộc DucklingStudy. Xuất bản .
Nguồn cội của khái niệm nằm ở động cơ hơi nước. Kỹ sư người Pháp Sadi Carnot đã nghiên cứu xem một máy nhiệt có thể đạt hiệu suất tối đa bao nhiêu, và chính công trình ấy đặt nền cho điều mà ngày nay ta gọi là định luật thứ hai của nhiệt động lực học (second law of thermodynamics). Clausius kế thừa hướng đi đó và nhận ra rằng mỗi lần năng lượng chuyển hóa, luôn có một phần thất thoát vĩnh viễn thành nhiệt vô dụng. Do đó ông cần một đại lượng riêng cho phần mất mát ấy, và năm 1865 ông gọi nó là entropy, khép lại bài báo bằng câu nổi tiếng: năng lượng của vũ trụ là hằng số, còn entropy của vũ trụ tiến tới cực đại. Về sau, Ludwig Boltzmann và Willard Gibbs diễn giải lại đại lượng này bằng xác suất trong cơ học thống kê (statistical mechanics), nối số cách sắp xếp vi mô của các nguyên tử với tính chất vĩ mô quan sát được.
Vì sao mang đúng cái tên này? Cái tên nghe lạ tai này được Clausius ghép có chủ đích từ tiếng Hy Lạp: tiền tố en- nghĩa là "trong" và trope nghĩa là "sự chuyển hóa", "chỗ ngoặt". Ông muốn từ mới nghe thật gần với chữ energy, vì theo ông hai khái niệm gần như tương đồng về ý nghĩa vật lý; vì vậy ông giữ nguyên khung của chữ "energy" nhưng thay gốc ergon ("công") bằng gốc trope ("chuyển hóa"). Nói cách khác, entropy được thiết kế để chỉ dạng năng lượng mà mọi năng lượng khác cuối cùng đều biến thành — nhiệt không còn dùng được. Chính Clausius cũng dùng một từ Đức đồng nghĩa là Verwandlungsinhalt, tức "nội dung chuyển hóa", cho thấy rõ ý đồ đặt tên. Ký hiệu ΔS° trong đề thi vì thế chỉ là độ biến thiên của đại lượng ấy, đo ở điều kiện chuẩn.
Câu "justify your answer" bắt buộc phải nêu số mol khí cụ thể của hai vế.
Giám khảo chấm theo điểm lập luận, nên viết "vế trái có 4 mol khí, vế phải có 2 mol khí, số mol khí giảm nên " mới trọn điểm. Trả lời kiểu "vì sản phẩm trật tự hơn" hoặc "vì entropy giảm" là lặp lại kết luận chứ không phải giải thích, và thường bị gạch. Một câu duy nhất chứa đủ ba yếu tố — con số, chiều thay đổi, dấu — là đáp án an toàn nhất.
Đổi đơn vị entropy sang kilôjun trước khi thay vào công thức năng lượng tự do.
Entropy được cho theo còn enthalpy theo , nên nếu cộng trừ thẳng thì kết quả lệch đúng một nghìn lần và mất điểm dù cách làm đúng. Đồng thời trong luôn là nhiệt độ tuyệt đối tính bằng kelvin, không phải . Viết rõ phép đổi đơn vị ra giấy, vì phần thi tự luận cho điểm theo từng bước trình bày.
Với bài tính, hãy viết công thức tổng quát ra trước khi thay số.
Người chấm cần thấy bạn hiểu rằng hiệu được lấy theo chiều sản phẩm trừ chất phản ứng và mỗi số hạng đều nhân với hệ số cân bằng; một dãy số trần trụi dẫn tới đáp án sai sẽ không được điểm nào. Ngoài ra, hãy kiểm tra lại dấu cuối cùng bằng lập luận định tính về số mol khí: nếu con số tính ra âm mà phản ứng lại sinh thêm khí thì gần như chắc chắn bạn đã đảo chiều phép trừ.
Biến thiên entropi của phản ứng mang dấu dương vì mol khí NO được sinh ra từ các chất phản ứng ở trạng thái rắn và trạng thái tan trong dung dịch, làm số vi trạng thái của hệ tăng mạnh. Phản ứng thu nhiệt với kJ/mol. Vì ΔH° và ΔS° cùng dương, phản ứng chỉ tự diễn biến (thermodynamically favorable) ở nhiệt độ cao, khi vượt qua .
Phản ứng tổng hợp amoniac có J/(mol·K), phù hợp với việc bốn mol khí chuyển thành hai mol khí. Ở 298 K, kJ/mol nên phản ứng tự diễn biến, nhưng vì cả ΔH° và ΔS° đều âm, ưu thế đó chỉ giữ được đến khoảng K; trên nhiệt độ này phản ứng không còn thuận lợi về mặt nhiệt động.