AP Chemistry
entropy
Còn gọi: S · độ hỗn loạn · độ mất trật tự

Entropy là đại lượng nhiệt động đo mức độ phân tán năng lượng của hệ, tăng theo số cách sắp xếp vi mô ứng với cùng một trạng thái vĩ mô.
Khi mô tả một hệ hóa học, ta không chỉ quan tâm hệ chứa bao nhiêu năng lượng mà còn quan tâm năng lượng ấy được trải ra như thế nào. Entropi chính là thước đo cho sự trải ra đó, bởi với cùng một lượng năng lượng, hệ nào có nhiều mức năng lượng để phân bố hơn thì entropi lớn hơn. Cách nói quen thuộc "độ hỗn loạn" chỉ là hình ảnh gợi ý, còn định nghĩa chính xác dựa trên việc đếm số cách sắp xếp vi mô tương ứng với cùng một trạng thái quan sát được ở quy mô lớn.
Mối liên hệ định lượng giữa hai cấp độ này được viết gọn thành , trong đó là số vi trạng thái và là hằng số Boltzmann. Vì hàm tăng theo nên hệ càng có nhiều cách phân bố năng lượng thì càng lớn. Do đó chất khí có entropi cao hơn hẳn chất lỏng (liquid) và chất rắn cùng loại, phân tử phức tạp có entropi cao hơn phân tử đơn giản, còn nhiệt độ cao cho entropi lớn hơn nhiệt độ thấp. Ngược lại, một tinh thể hoàn hảo ở K chỉ còn duy nhất một cách sắp xếp, nên và đó chính là nội dung của nguyên lý thứ ba nhiệt động lực học (thermodynamics).
Nhờ điểm mốc tuyệt đối này, mỗi chất đều có entropi mol chuẩn đo được ở điều kiện chuẩn. Từ đó, biến thiên entropi của phản ứng được tính bằng , nghĩa là lấy tổng entropi sản phẩm (product) trừ tổng entropi chất phản ứng (reactant), mỗi số hạng nhân với hệ số cân bằng tương ứng. Tuy nhiên, của riêng hệ không quyết định chiều tự diễn biến, vì theo nguyên lý thứ hai nhiệt động lực học thì tổng entropi của hệ và môi trường mới là đại lượng phải tăng. Chính vì vậy, trong đề thi entropi hầu như luôn xuất hiện cùng entanpi qua biểu thức .
Trực giác: Nhỏ một giọt mực vào cốc nước: mực tự tản ra khắp cốc vì có vô số cách để nó tản, nhưng gần như không có cách nào để nó tự gom lại thành giọt cũ.
Dùng để tính entropy tuyệt đối của hệ khi biết số vi trạng thái; áp dụng cho hệ ở trạng thái cân bằng nhiệt động, liên kết tính chất vĩ mô với cấu hình vi mô.
Trong đó
1865Rudolf ClausiusLudwig BoltzmannWillard GibbsSadi CarnotClaude Shannon
Đếm cả chất rắn và chất lỏng khi dự đoán dấu là sai.
Khi so sánh số mol hai vế của phương trình, chỉ được đếm các chất ở pha khí, vì khí có mức phân tán vật chất lớn hơn hẳn rắn và lỏng nên nó áp đảo mọi đóng góp khác. Trong phản ứng nung vôi , nếu đếm cả rắn thì thấy "1 chất thành 2 chất" rồi kết luận mơ hồ; đếm đúng thì 0 mol khí thành 1 mol khí, rõ ràng. Tương tự với , carbon rắn bị bỏ qua và ta chỉ thấy 1 mol khí thành 2 mol khí.
Phản ứng tách một chất thành nhiều chất không tự động làm entropy tăng.
Nhiều học sinh học thuộc quy tắc "phân hủy thì entropy tăng, kết hợp thì entropy giảm" rồi áp máy móc cho mọi phương trình. Quy tắc thật sự nằm ở tổng số mol khí (moles of gas) hai vế, chứ không nằm ở số lượng công thức hóa học viết trên giấy. Phản ứng là ví dụ ngược lại: đây là phản ứng kết hợp nhưng cái đáng quan tâm là 3 mol khí giảm còn 2 mol khí, nên vì số hạt khí tự do ít đi.
Entropy không chỉ là "mức độ hỗn loạn" của vật chất.
Cách hiểu bằng hình ảnh lộn xộn tuy dễ nhớ nhưng làm học sinh bỏ sót một nửa nội dung: entropy đo số vi trạng thái (microstates) khả dĩ, tức số cách phân bố năng lượng giữa các hạt trên các mức năng lượng. Vì vậy có hai đường làm entropy tăng, một là phân tán vật chất (rắn thành khí, khí nở ra), hai là phân tán năng lượng (tăng nhiệt độ). Khi đề cho một bình cứng chứa cùng số mol khí ở hai nhiệt độ khác nhau, thể tích không đổi và vật chất không hề phân tán thêm, nhưng mẫu ở nhiệt độ cao vẫn có entropy lớn hơn vì dải động năng rộng hơn nên có nhiều cách chia năng lượng hơn.
Nén khí làm entropy giảm, không phải giữ nguyên.
Học sinh hay nghĩ số hạt không đổi thì entropy không đổi, nhưng khi thể tích co lại, mỗi hạt còn ít không gian để phân bố hơn nên số vi trạng thái giảm theo. Cùng logic đó, khí hóa lỏng và lỏng hóa rắn đều làm entropy giảm vì các hạt bị gom lại rồi bị khóa vào mạng tinh thể cố định. Hãy nhớ thứ tự cho cùng một chất, và mọi quá trình đi ngược thứ tự này đều cho .
Quiz câu thật từ ngân hàng đề
Vài câu thật gắn đúng khái niệm này, chấm ngay kèm giải thích từng đáp án — hệ thống ghi nhớ bạn nắm tới đâu.
Biên soạn bởi DucklingStudy, bản quyền thuộc DucklingStudy. Xuất bản .
Vào giữa thế kỷ 19, các kỹ sư và nhà vật lý đang vật lộn với một câu hỏi rất thực tế của thời đại máy hơi nước: vì sao nhiệt luôn tự truyền từ vật nóng sang vật lạnh mà không bao giờ ngược lại, và vì sao không cỗ máy nào chuyển hết nhiệt thành công. Trên nền các ý tưởng trước đó của Sadi Carnot, Clausius định nghĩa một đại lượng bằng thương của một lượng nhiệt vô cùng nhỏ chia cho nhiệt độ tại thời điểm đó, và dùng nó để phát biểu chiều không thể đảo ngược của tự nhiên. Chỉ khoảng một thập niên sau, Boltzmann thực hiện bước nối then chốt: đại lượng vĩ mô ấy chính là thước đo số cách sắp xếp vi mô khả dĩ của các nguyên tử và phân tử trong hệ, và Gibbs phát triển tiếp thành cơ học thống kê.
Vì sao mang đúng cái tên này? Clausius ghép từ này từ tiếng Hy Lạp: ông giữ tiền tố của chữ "energy" nhưng thay gốc ἔργον (ergon, nghĩa là "công") bằng gốc τροπή (tropē, nghĩa là "sự biến đổi, sự xoay chiều"). Chủ ý rất rõ ràng — ông muốn cái tên mới nghe song song với "năng lượng", vì ông thấy hai khái niệm gần như tương đồng về ý nghĩa vật lý; ban đầu ông còn gọi nó là "nội dung biến đổi" (Verwandlungsinhalt). Vì vậy, cái tên nghe khó hiểu này thật ra tự nó đã nói lên định nghĩa: đại lượng đo mức độ biến đổi mà một hệ đã trải qua. Trước đó William Rankine từng gọi cùng ý tưởng bằng những tên khác như "hàm nhiệt động" và "thế nhiệt", nhưng chính cái tên của Clausius trụ lại. Năm 1948, Claude Shannon mượn lại đúng chữ này cho lý thuyết thông tin, khiến một từ sinh ra từ máy hơi nước ngày nay còn xuất hiện trong khoa học máy tính.
Gạch số mol khí dưới mỗi chất trước khi kết luận dấu .
Thói quen này chỉ tốn năm giây nhưng chặn được đúng cái bẫy mà đề hay giăng: viết của vế trái và vế phải ra lề, gạch bỏ mọi chất mang ký hiệu hoặc , rồi lấy hiệu . Nếu hiệu dương thì , âm thì . Chỉ khi bạn mới cần xét tới các yếu tố phụ như độ phức tạp phân tử hay số hạt tổng cộng.
Câu trả lời tự luận phải nêu nguyên nhân đúng, không chỉ nêu dấu đúng.
Giám khảo chấm theo lý lẽ, nên nói "entropy tăng" mà giải thích bằng nhiệt độ trong khi đề không hề đổi nhiệt độ thì mất điểm dù dấu đúng. Hãy viết rõ bạn đang dùng đường nào: "số mol khí tăng từ 1 lên 2 nên vật chất phân tán mạnh hơn" cho trường hợp đổi số hạt, hoặc "nhiệt độ cao hơn cho dải động năng rộng hơn nên có nhiều vi trạng thái hơn" cho trường hợp đổi nhiệt độ. Đừng trộn hai lý do vào một câu.
Dấu của đọc được mà không cần biết nhiệt độ hay nhiệt phản ứng.
Đề hay đưa phương án nhiễu kiểu "không xác định được nếu chưa biết nhiệt độ" để dụ học sinh nhầm entropy với năng lượng tự do Gibbs (Gibbs free energy). Nhiệt độ chỉ xuất hiện trong khi bạn xét tính tự diễn biến, còn riêng dấu của thì suy trực tiếp từ pha và số mol khí. Nhớ tách bạch hai câu hỏi này, vì đề rất thích hỏi liên tiếp "dấu " rồi mới tới "phản ứng có tự diễn biến ở nhiệt độ cao không".
Dấu thay đổi entropy lần lượt là: (I) âm, (II) dương, (III) âm với giá trị tính được , và (IV) dương. Quá trình (IV) có dương lớn nhất vì nó tạo ra hai mol chất khí từ chất rắn, mà chất khí là trạng thái có số vi trạng thái (microstates) lớn hơn hẳn. Khi trình bày trên bài thi, chỉ nói "chất khí hỗn loạn hơn" là chưa đủ; phải chỉ rõ số mol khí thay đổi bao nhiêu thì lập luận mới được tính điểm.
Phản ứng nung vôi có vì sinh ra một mol khí từ chất rắn, và nên thu nhiệt. Ở giá trị cho thấy quá trình không tự diễn biến, nhưng khi nhiệt độ vượt khoảng thì số hạng đủ lớn để kéo xuống âm và đá vôi bắt đầu phân hủy. Trường hợp này minh họa vai trò của entropy như một động lực chỉ phát huy sức mạnh ở nhiệt độ cao.