AP Chemistry
saturated solution
Còn gọi: saturated aqueous solution · dung dịch đã bão hòa

Dung dịch bão hòa là dung dịch chứa lượng chất tan tối đa có thể ở nhiệt độ xác định.
Dung dịch bão hòa (saturated solution) là trạng thái mà dung môi không thể hòa tan thêm bất kỳ lượng chất tan nào nữa ở một điều kiện nhiệt độ xác định. Khi đó, nồng độ chất tan đạt đến giá trị cực đại và được gọi là độ tan. Điều kiện này được xác định qua hệ thức hoặc . Hệ thức thứ nhất cho biết nồng độ chất tan đã chạm ngưỡng giới hạn, còn hệ thức thứ hai khẳng định tích số nồng độ các ion bằng đúng hằng số cân bằng của chất đó. Tuy nhiên, trạng thái này không có nghĩa là mọi quá trình đã dừng lại, mà thực chất các quá trình đối lập đang diễn ra với tốc độ bằng nhau.
Ở cấp độ vi mô, các hạt chất tan liên tục rời khỏi bề mặt tinh thể để đi vào dung môi, đồng thời các hạt khác trong dung dịch lại va chạm và bám ngược trở lại bề mặt rắn. Quá trình chất rắn đi vào dung dịch được gọi là sự hòa tan (dissolution), còn quá trình ngược lại mang tên sự kết tinh (crystallization). Khi tốc độ của hai quá trình này bằng nhau, hệ đạt tới một cân bằng động (dynamic equilibrium). Nhờ đó, nồng độ chất tan trong dung dịch được giữ nguyên không đổi theo thời gian, dù các phân tử vẫn không ngừng di chuyển qua lại giữa pha rắn và pha lỏng.
Vì vậy, nếu ta cố tình thêm chất tan vào một dung dịch đã bão hòa và có dư chất rắn chưa tan ở đáy bình, lượng chất rắn đó sẽ không hề giảm đi mà giữ nguyên khối lượng. Ngược lại, khi ta thay đổi nhiệt độ của hệ, độ tan của chất rắn thường tăng lên hoặc giảm đi, phá vỡ trạng thái cân bằng cũ và thiết lập một điểm bão hòa mới. Hiểu rõ bản chất cân bằng này chính là nền tảng cốt lõi để giải thích các hiện tượng kết tủa (precipitation) trong dung dịch hoặc tính toán tích số tan ở các bài toán nâng cao.
Trực giác: Hãy tưởng tượng bạn đang khuấy đường vào cốc nước lạnh cho đến khi đường không thể tan thêm được nữa mà cứ nằm lại dưới đáy cốc.
Dùng cho hợp chất ion ít tan ; khi tích nồng độ các ion (mỗi nồng độ nâng lên lũy thừa hệ số) bằng , dung dịch đang ở trạng thái bão hòa và cân bằng động với chất rắn chưa tan
Trong đó
Thêm nước vào dung dịch bão hòa còn dư chất rắn không làm loãng nồng độ ion.
Ngay khi nước vào, nồng độ các ion tụt xuống dưới mức cân bằng, nên một phần chất rắn chưa tan tiếp tục tan ra cho tới khi tích trở lại đúng bằng . Do đó sau khi thêm nước vẫn là , y hệt trước đó; cái tăng lên chỉ là tổng số mol chất tan trong bình. Chỉ khi chất rắn tan hết thì việc thêm nước mới thực sự làm loãng dung dịch, và lúc đó dung dịch không còn bão hòa nữa.
Bão hòa không đồng nghĩa với đậm đặc.
Một dung dịch bão hòa chỉ nói rằng lượng chất tan đã đạt mức tối đa mà dung môi giữ được ở nhiệt độ đó, tức là chất rắn chưa tan và ion trong dung dịch đang ở trạng thái cân bằng động. Với muối rất ít tan như AgBr, dung dịch bão hòa vẫn cực loãng, cỡ , loãng hơn nhiều so với dung dịch NaCl 1 M chưa hề bão hòa. Vì vậy khi đề hỏi so sánh, hãy trả lời theo và độ tan mol (molar solubility), đừng suy đoán theo cảm giác "đặc hay loãng".
Chất rắn nguyên chất không được đưa vào biểu thức tích số tan (solubility product).
Với cân bằng , đáp án đúng là , chứ không phải chia cho . Lý do là hoạt độ của pha rắn nguyên chất được quy ước bằng 1 và không đổi khi ta lấy nhiều hay ít chất rắn. Đây là câu một điểm cho không ở phần tự luận, nhưng mỗi năm vẫn có bài mất điểm vì viết thừa mẫu số.
Độ tan mol không phải là giá trị , và quan hệ giữa chúng phụ thuộc tỉ lệ hợp thức.
Với muối tỉ lệ 1 : 1 như AgBr thì nên , nhưng với muối kiểu thì . Nhiều học sinh quen tay lấy căn bậc hai cho mọi trường hợp, hoặc quên bình phương hệ số 2 của ion . Vì vậy hãy luôn lập bảng ICE trước khi thay số, kể cả khi bài trông có vẻ đơn giản.
Quiz câu thật từ ngân hàng đề
Vài câu thật gắn đúng khái niệm này, chấm ngay kèm giải thích từng đáp án — hệ thống ghi nhớ bạn nắm tới đâu.
Biên soạn bởi DucklingStudy, bản quyền thuộc DucklingStudy. Xuất bản .
Thể tích dung dịch bão hòa thường là dữ kiện gài, đừng đem chia hay nhân bừa.
Câu hỏi cho "50.0 mL dung dịch bão hòa AgBr" không hề đòi bạn dùng con số 50.0 mL để tính nồng độ, vì nồng độ bão hòa chỉ phụ thuộc và nhiệt độ. Thể tích chỉ có ích khi đề chuyển sang hỏi số mol hoặc khối lượng chất tan, lúc đó mới nhân nồng độ với thể tích tính bằng lít. Đọc kỹ xem đề hỏi "concentration" hay "moles" rồi hãy đặt bút.
Khi đề thêm một ion có sẵn trong muối, phải lập lại bảng ICE với nồng độ ban đầu khác 0.
Đây là hiệu ứng ion chung (common-ion effect): thêm từ NaBr sẽ đẩy cân bằng về phía chất rắn, làm độ tan của AgBr giảm mạnh so với trong nước cất. Trong bài giải, hãy viết rõ một câu lập luận theo nguyên lí Le Châtelier rồi mới trình bày phép tính, vì thang điểm thường tách riêng điểm cho lời giải thích và điểm cho kết quả số. Đừng chỉ ghi đáp số rồi kết luận "độ tan giảm".
Muốn kết luận có kết tủa hay không, phải tính thương số phản ứng (reaction quotient) rồi so với .
Sau khi trộn hai dung dịch, nhớ tính lại nồng độ từng ion theo thể tích tổng trước khi thay vào biểu thức, vì bỏ qua bước pha loãng này là lỗi mất điểm phổ biến nhất của dạng bài trộn. Nếu thì kết tủa xuất hiện và hệ đi tới trạng thái bão hòa; nếu thì dung dịch còn chưa bão hòa. Hãy viết hẳn ra một câu so sánh có số cụ thể, đừng để giám khảo tự suy ra từ dãy phép tính.
Biểu thức là ; trong dung dịch bão hòa AgBr ở 298 K thì M, ứng với g AgBr tan trong 50,0 mL. Sau khi thêm 50,0 mL nước cất mà vẫn còn chất rắn dư, thêm AgBr tan ra và trở lại đúng giá trị M: pha loãng làm tăng tổng số mol ion tan nhưng không làm đổi nồng độ của một dung dịch bão hòa.
Sau khi trộn, lớn hơn nên AgBr kết tủa; quá trình dừng khi M, tức là dung dịch cuối cùng vừa đúng bão hòa và nằm cân bằng với lượng AgBr rắn vừa tách ra.