AP Chemistry
rate constant
Còn gọi: hằng số tốc độ phản ứng · k · hằng số tỉ lệ trong định luật tốc độ · proportionality constant · rate constant k

Hằng số tốc độ là đại lượng tỉ lệ nối nồng độ chất tham gia với tốc độ phản ứng trong định luật tốc độ.
Trong động học hóa học, hằng số tốc độ là đại lượng đặc trưng cho mối liên hệ nhân quả giữa nồng độ các chất tham gia và tốc độ của phản ứng đó. Mỗi phản ứng cụ thể ở một nhiệt độ xác định sẽ có một giá trị riêng cho đại lượng này, phản ánh tốc độ nhanh hay chậm của quá trình biến đổi chất. Nhờ vào đại lượng này, các nhà hóa học có thể thiết lập một phương trình toán học gọi là định luật tốc độ (rate law) để mô tả chính xác sự phụ thuộc của tốc độ phản ứng vào nồng độ.
Xét một phản ứng tổng quát có dạng , định luật tốc độ thường được viết dưới dạng . Trong đó, là tốc độ phản ứng, và là nồng độ mol của chất A và B, còn và là bậc phản ứng (reaction order) xác định bằng thực nghiệm. Hệ số đứng trước tích các nồng độ chính là hằng số tốc độ, đóng vai trò tỉ lệ để đẳng thức được cân bằng về cả đơn vị lẫn giá trị số học. Vì vậy, khi nồng độ các chất thay đổi, tốc độ phản ứng sẽ biến đổi theo, nhưng vẫn giữ nguyên giá trị nếu nhiệt độ không đổi.
Tuy nhiên, giá trị của không phải là bất biến trong mọi điều kiện, mà nó phụ thuộc rất mạnh vào nhiệt độ của môi trường phản ứng. Khi nhiệt độ tăng, các phân tử chuyển động nhanh hơn và va chạm hiệu quả nhiều hơn, làm cho tăng theo và kéo theo tốc độ phản ứng tăng lên rõ rệt. Ngược lại, đơn vị của không cố định mà thay đổi linh hoạt tùy thuộc vào tổng bậc của phản ứng, nhằm đảm bảo vế trái và vế phải của phương trình tốc độ luôn có cùng thứ nguyên. Do đó, việc xác định đúng đơn vị cho là một bước quan trọng để giải quyết các bài toán động học.
Trực giác: Hằng số tốc độ giống như hệ số quy đổi trên một chiếc cân, cho biết chỉ cần tăng nhẹ lượng nguyên liệu thì thành quả tạo ra sẽ tăng lên tương ứng bao nhiêu.
Dùng khi cần biểu diễn mối quan hệ giữa tốc độ phản ứng và nồng độ chất đầu; xuất hiện như hằng số tỉ lệ của định luật tốc độ.
Trong đó
1864GuldbergWaageWilhelmy
Giữa thế kỷ 19, các nhà hóa học bắt đầu không chỉ hỏi phản ứng cho ra sản phẩm gì, mà còn hỏi nó chạy nhanh chậm ra sao. Năm 1850, Wilhelmy theo dõi nồng độ đường mía biến đổi theo thời gian và viết được quy luật tốc độ dưới dạng một phương trình vi phân chứa lũy thừa của nồng độ. Đến năm 1864, Guldberg và Waage phát biểu rằng tốc độ của một phản ứng tỉ lệ thuận với tích nồng độ các chất phản ứng. Nhưng "tỉ lệ thuận" thì phải có một con số đứng giữa để biến tỉ lệ thành đẳng thức, và chính con số ấy được gọi là hằng số tốc độ.
Đơn vị của hằng số tốc độ thay đổi theo bậc phản ứng tổng (overall order).
Rất nhiều thí sinh học thuộc " có đơn vị " rồi áp cho mọi bài, nhưng đơn vị chỉ là hệ quả của việc cân bằng thứ nguyên trong phương trình tốc độ (rate law). Từ với tốc độ đo bằng , ta suy ra . Do đó bậc cho , bậc cho , bậc cho và bậc cho . Vì vậy khi đề cho đơn vị của , bạn có thể đọc ngược ra bậc phản ứng mà không cần thêm dữ kiện nào khác.
Thêm chất phản ứng làm tăng tốc độ nhưng không làm đổi hằng số tốc độ.
Đây là lỗi kinh điển vì học sinh thấy tốc độ tăng thì nghĩ "mọi thứ trong biểu thức đều tăng". Thực ra nồng độ nằm ở phần , còn là hệ số tỉ lệ chỉ phụ thuộc nhiệt độ, bản chất phản ứng và sự có mặt của chất xúc tác (catalyst). Nhờ đó, muốn giải thích một thay đổi của bạn buộc phải viện đến nhiệt độ hoặc năng lượng hoạt hóa (activation energy), tuyệt đối không được viện đến nồng độ.
Hằng số tốc độ không phải là tốc độ phản ứng.
Tốc độ giảm dần theo thời gian vì chất phản ứng bị tiêu thụ, trong khi giữ nguyên suốt phản ứng nếu nhiệt độ không đổi. Chỉ trong trường hợp đặc biệt của bậc thì và hai đại lượng mới trùng nhau về giá trị lẫn đơn vị. Vì vậy câu trả lời kiểu "tốc độ không đổi vì không đổi" là sai bản chất và thường bị trừ trọn điểm giải thích.
Chu kì bán rã (half-life) của phản ứng bậc một độc lập với nồng độ ban đầu.
Quan hệ cho thấy chỉ có quyết định thời gian này, nên nếu bảng số liệu cho các nồng độ đầu khác nhau mà chu kì bán rã vẫn như cũ thì đó là bằng chứng của bậc một. Ngược lại, khi chu kì bán rã ngắn đi ở nhiệt độ cao hơn hoặc khi có xúc tác, nguyên nhân là đã tăng chứ không phải "phản ứng đổi bậc". Nhiều bài tự luận mất điểm đúng ở chỗ này vì thí sinh giải thích bằng nồng độ thay vì bằng .
Quiz câu thật từ ngân hàng đề
Vài câu thật gắn đúng khái niệm này, chấm ngay kèm giải thích từng đáp án — hệ thống ghi nhớ bạn nắm tới đâu.
Biên soạn bởi DucklingStudy, bản quyền thuộc DucklingStudy. Xuất bản .
Dùng khi cần tính ở một nhiệt độ cụ thể, so sánh ở hai nhiệt độ khác nhau, hoặc xác định từ dữ liệu thực nghiệm.
Trong đó
Vì sao mang đúng cái tên này? Tên gọi phản ánh đúng vai trò toán học của đại lượng này: nó là hằng số tỉ lệ trong biểu thức nối tốc độ với nồng độ, nên ghép "tốc độ" với "hằng số" thành một cái tên mô tả chứ không phải một cái tên vinh danh ai. Chữ "hằng" ở đây cần được hiểu có giới hạn, vì đại lượng này chỉ đứng yên khi nồng độ thay đổi mà nhiệt độ giữ nguyên; hễ đổi nhiệt độ thì nó đổi theo. Chính vì vậy nhiều tài liệu chuyên ngành thích gọi nó là hệ số tốc độ (rate coefficient) hơn, và ký hiệu được dùng gần như thống nhất trong các phương trình động học. Một hệ quả thú vị của cách đặt tên này là đơn vị của không cố định: nó phụ thuộc vào bậc phản ứng (reaction order), nên cùng mang một cái tên nhưng của phản ứng bậc nhất và bậc hai lại có thứ nguyên khác nhau.
Kéo nồng độ — tốc độ chạy dọc đường cong nhưng k đứng im
Kéo tham số, thấy khái niệm chuyển động — mở khoá bằng tài khoản 0đ.
Đừng học thuộc bảng đơn vị của , hãy cân thứ nguyên ngay trên nháp.
Viết , thay vào vế trái và vào phần nồng độ, rồi rút ra . Thao tác này mất chưa tới mười giây nhưng chặn đứng cả bốn phương án nhiễu mà đề luôn cài sẵn, vì mỗi phương án ứng với một bậc khác nhau. Với câu trắc nghiệm dạng ngược, đơn vị lập tức tố cáo phản ứng bậc một.
Khi giải thích thay đổi, phải viết ra chữ "năng lượng hoạt hóa" hoặc "nhiệt độ".
Giám khảo chấm theo ý, và ý được tính điểm là mối liên hệ : xúc tác mở ra cơ chế có thấp hơn, nhiệt độ cao làm nhiều va chạm đủ năng lượng hơn, cả hai đều làm lớn lên. Nếu chỉ nói "phản ứng nhanh hơn" mà không nối được sang thì câu trả lời bị coi là mô tả hiện tượng, không phải giải thích.
Bài tính phải hiện đủ công thức, số thay vào và đơn vị kèm theo.
Phần tự luận ghi rõ rằng không trình bày các bước thì không có điểm, kể cả khi đáp số đúng. Chẳng hạn với phản ứng bậc một, hãy viết , sau đó rồi mới thay số và ghi đơn vị . Một đáp số trần trụi không đơn vị thường bị trừ điểm ngay cả khi con số hoàn toàn chính xác.
Phản ứng bậc hai theo , bậc một theo , định luật tốc độ là với ở . Đơn vị của hằng số tốc độ phụ thuộc bậc tổng theo công thức , nên một phản ứng bậc tổng bằng có đo bằng . Ở nồng độ đầu và , tốc độ đầu dự đoán là .
Chu kỳ bán rã của phản ứng bậc một không phụ thuộc lượng chất ban đầu, nên hai thí nghiệm ở tất yếu cho cùng và cùng hằng số tốc độ . Ở , hằng số tốc độ là , gấp bốn lần giá trị ở . Sự tăng này không do nồng độ mà do nhiệt độ: theo phương trình Arrhenius, nhiệt độ cao làm tăng tỉ lệ va chạm đủ năng lượng hoạt hóa, nên hằng số tốc độ lớn hơn và phản ứng đạt một nửa mức chuyển hóa nhanh hơn.