AP Chemistry
rate of reaction
Còn gọi: reaction rate · tốc độ phản ứng hóa học · rate of a reaction · rate · tốc độ quá trình · tốc độ đo được · measurable rate · noticeable rate

Tốc độ phản ứng là độ biến thiên nồng độ chất tham gia hoặc sản phẩm trong một đơn vị thời gian, luôn quy ước mang giá trị dương.
Khi một phản ứng (reaction) xảy ra, nồng độ các chất tham gia giảm dần còn nồng độ sản phẩm tăng lên, và câu hỏi tự nhiên là quá trình đó diễn ra nhanh hay chậm. Tốc độ phản ứng chính là câu trả lời định lượng cho câu hỏi ấy: nó đo lượng nồng độ thay đổi được trong mỗi giây. Vì nồng độ chất tham gia giảm nên biến thiên của nó âm, do đó ta thêm dấu trừ để tốc độ luôn là số dương theo quy ước.
Vì vậy, để áp dụng quy ước này cho một phản ứng tổng (overall reaction) tổng quát, ta xét và viết tốc độ chung như sau:
Mỗi phân số cho biết nồng độ của một chất đổi bao nhiêu mol trên lít trong mỗi giây, còn việc chia cho hệ số tỉ lượng (stoichiometric coefficients) khiến bốn biểu thức bằng nhau. Nhờ đó, dù theo dõi chất nào ta cũng thu về cùng một con số duy nhất cho phản ứng. Nếu quên chia hệ số, hai người đo hai chất khác nhau sẽ báo hai giá trị lệch nhau đúng bằng tỉ số hệ số.
Hơn nữa, trên thực tế cần phân biệt hai cách đọc số liệu. Tốc độ trung bình lấy chênh lệch nồng độ giữa hai mốc thời gian rồi chia cho khoảng thời gian, tức là hệ số góc của dây cung nối hai điểm trên đồ thị nồng độ – thời gian. Ngược lại, tốc độ tức thời là hệ số góc của tiếp tuyến tại một thời điểm, phản ánh đúng độ nhanh ngay lúc đó. Vì đường cong nồng độ thoải dần khi chất tham gia cạn đi, tốc độ tức thời giảm theo thời gian; do vậy đề thi thường yêu cầu tốc độ đầu tại , khi sản phẩm chưa kịp tích tụ và phản ứng nghịch chưa đáng kể.
Trực giác: Giống như đo xe chạy nhanh chậm bằng số ki-lô-mét đi được mỗi giờ, chỉ khác là ở đây ta đếm nồng độ mất đi hay sinh ra mỗi giây.
Dùng khi đề cho phương trình và hỏi liên hệ giữa tốc độ mất đi của một chất phản ứng với tốc độ hình thành của một sản phẩm.
Trong đó
1850Ludwig WilhelmyWilhelm OstwaldSvante ArrheniusHenry EyringMax Trautz
Nghiền nhỏ chất rắn không làm tăng hằng số tốc độ (rate constant).
Chia nhỏ chỉ tăng diện tích bề mặt (surface area), tức tăng số nguyên tử ở mặt tiếp xúc với dung dịch, nên số va chạm hiệu quả mỗi giây nhiều hơn và tốc độ đầu (initial rate) lớn hơn. Bản thân chỉ phụ thuộc nhiệt độ và năng lượng hoạt hóa (activation energy), không phụ thuộc kích thước hạt. Khi giải thích thí nghiệm Zn viên so với Zn bột, hãy viết "nhiều nguyên tử Zn tiếp xúc với HCl hơn", đừng viết "phản ứng dễ xảy ra hơn".
Chất rắn nguyên chất không có nồng độ để đưa vào biểu thức tốc độ.
Vì vậy tăng khối lượng CaCO₃ mà vẫn để nguyên cục thì tốc độ hầu như không đổi; chỉ khi chia nhỏ, phần chất rắn thực sự tham gia phản ứng mới tăng. Ngược lại, tăng nồng độ CH₃COOH thì tốc độ tăng vì nồng độ chất tan có mặt trong biểu thức tốc độ. Nhiều học sinh mất điểm vì viết "tăng " — chấm bài sẽ trừ ngay.
Tốc độ phản ứng phải chia cho hệ số tỉ lượng thì mới thống nhất giữa các chất.
Với , HCl biến mất nhanh gấp đôi tốc độ sinh H₂, nên Dấu trừ đứng trước số hạng của chất phản ứng để tốc độ luôn dương. Bỏ dấu trừ hoặc bỏ hệ số là hai lỗi bị trừ điểm riêng biệt.
Tốc độ không phải là hằng số trong suốt phản ứng.
Đường cong thể tích khí theo thời gian dốc nhất lúc đầu rồi thoải dần, vì nồng độ chất phản ứng giảm dần. Do đó "tốc độ" đọc từ độ dốc của cả đoạn là tốc độ trung bình, còn độ dốc tiếp tuyến tại một điểm mới là tốc độ tức thời. Khi đề yêu cầu so sánh hai thí nghiệm, hãy so ở thời điểm để loại ảnh hưởng của sự tiêu hao.
Quiz câu thật từ ngân hàng đề
Vài câu thật gắn đúng khái niệm này, chấm ngay kèm giải thích từng đáp án — hệ thống ghi nhớ bạn nắm tới đâu.
Biên soạn bởi DucklingStudy, bản quyền thuộc DucklingStudy. Xuất bản .
Dùng khi bảng số liệu chỉ cho nồng độ tại vài mốc thời gian rời rạc: kết quả là tốc độ trung bình (average rate) trên cả khoảng, tức độ dốc của đường thẳng nối hai điểm.
Trong đó
Dùng khi câu hỏi yêu cầu tốc độ tức thời (instantaneous rate) tại một thời điểm, kể cả tốc độ đầu (initial rate) tại ; trên đồ thị nồng độ theo thời gian, giá trị này bằng độ dốc của tiếp tuyến (tangent line) tại điểm đó, lấy dấu ngược lại.
Trong đó
Hóa học thế kỷ 19 đã biết chất nào biến thành chất nào, nhưng chưa có cách nói cho ra số việc phản ứng chạy nhanh đến đâu. Năm 1850, Wilhelmy đo sự biến đổi theo thời gian của một phản ứng và mở ra ngành động học hóa học (chemical kinetics). Từ đó câu hỏi mở rộng dần: Ostwald năm 1887 đưa ra cách phân loại theo bậc phản ứng (reaction order) và chu kỳ bán rã, còn Arrhenius năm 1889 phân tích ảnh hưởng của nhiệt độ bằng và giải thích nó như một rào cản năng lượng. Công thức này nói rằng hằng số tốc độ tăng rất nhanh khi nhiệt độ tăng, vì thừa số mũ chứa rào cản đó.
Vì sao mang đúng cái tên này? Chữ "tốc độ" trong tên gọi không phải là hình ảnh vay mượn mà là nghĩa đen: ngay từ nghiên cứu năm 1850, đại lượng này được lập ra để đo lượng chất biến đổi trong một đơn vị thời gian, đúng như cách người ta đo tốc độ chuyển động. Vì vậy các thuật ngữ mọc ra quanh nó đều mang dấu vết của việc đo đạc chứ không phải của lý thuyết: Ostwald đặt tên bậc phản ứng theo số mũ xuất hiện trong biểu thức thực nghiệm, còn Arrhenius gắn phần phụ thuộc nhiệt độ với ý niệm rào cản, từ đó sinh ra tên gọi năng lượng hoạt hóa (activation energy). Sang thế kỷ 20, cách hình dung nguyên nhân mới quyết định tên gọi: Trautz và Lewis năm 1917 cho rằng tốc độ do tần suất va chạm phân tử định đoạt nên lý thuyết của họ mang tên thuyết va chạm (collision theory), trong khi Eyring năm 1935 mô tả phản ứng đi qua một cấu trúc trung gian giữa chất phản ứng và sản phẩm, gọi là phức chất hoạt hóa, và cách tiếp cận này được biết đến với tên thuyết trạng thái chuyển tiếp (transition state theory).
Nguồn đối chiếu
Kéo mốc thời gian — nhìn tiếp tuyến thoải dần khi HCl cạn
Kéo tham số, thấy khái niệm chuyển động — mở khoá bằng tài khoản 0đ.
Khi giải thích ảnh hưởng của một yếu tố, phải nói tới va chạm ở mức hạt.
Câu trả lời được điểm luôn có ba phần: yếu tố thay đổi, hệ quả ở mức hạt (số va chạm mỗi giây, hoặc tỉ lệ hạt đủ năng lượng hoạt hóa), rồi mới tới tốc độ. Câu "bột phản ứng nhanh hơn vì diện tích bề mặt lớn hơn" chỉ được một nửa nếu thiếu vế "nhiều nguyên tử tiếp xúc với dung dịch hơn".
Câu hỏi "thay đổi nào làm tăng tốc độ?" thường có bẫy về biến không liên quan.
Thêm nước để pha loãng axit làm giảm nồng độ nên giảm tốc độ, dù thể tích lớn hơn; đổi bình phản ứng hay khuấy chất tan đã tan hết thì không đổi gì. Chỉ bốn yếu tố thực sự có tác dụng: nồng độ, nhiệt độ, diện tích bề mặt của chất rắn, và chất xúc tác (catalyst). Loại nhanh mọi lựa chọn không chạm vào bốn yếu tố này.
Chất xúc tác làm giảm năng lượng hoạt hóa, không làm phản ứng tỏa nhiệt hơn.
Nếu đề hỏi vì sao xúc tác tăng tốc độ, hãy viết rõ nó mở một cơ chế mới có rào năng lượng thấp hơn nên tỉ lệ va chạm thành công tăng. Tuyệt đối không viết rằng xúc tác thay đổi hay dịch chuyển vị trí cân bằng — đây là câu sai bị bắt lỗi nhiều nhất ở phần tự luận.
Trong 200 giây đầu, mất đi với tốc độ trung bình ; tương ứng sinh ra với và với . Đến khoảng – s, tốc độ mất đi của chỉ còn , tức giảm một nửa, cho thấy tốc độ phản ứng nhỏ dần khi chất phản ứng loãng đi.
Thí nghiệm 2 phản ứng nhanh hơn vì bột kẽm có diện tích bề mặt lớn hơn nhiều so với mẩu kẽm nguyên khối, làm tăng tần số va chạm giữa và bề mặt kim loại. Tuy nhiên là chất giới hạn ở cả hai thí nghiệm, nên cả hai đều chỉ thu được mol , tức khoảng mL ở và atm. Nâng nhiệt độ là cách làm tăng tốc độ mà không làm thay đổi lượng khí thu được cuối cùng.