AP Chemistry
combustion
Còn gọi: sự đốt cháy · combustion reaction

Phản ứng cháy là phản ứng của một chất với oxi, tỏa nhiệt mạnh và thường kèm ngọn lửa; đốt hydrocarbon cho sản phẩm là CO2 và H2O.
Trong hóa học, phản ứng cháy (combustion) chỉ những phản ứng trong đó một chất kết hợp với oxi, giải phóng năng lượng dưới dạng nhiệt và thường phát sáng thành ngọn lửa. Nhiên liệu quen thuộc nhất là các hydrocarbon, tức hợp chất chỉ gồm cacbon và hiđro; khi lượng oxi đủ dùng, mọi nguyên tử cacbon đều chuyển thành và mọi nguyên tử hiđro chuyển thành . Vì sản phẩm đã cố định như vậy, ta có thể viết ngay phương trình tổng quát mà không cần đoán:
Hệ số oxi cho biết số mol oxi cần cho mỗi mol nhiên liệu, suy ra từ việc cân bằng cacbon trước, hiđro sau, oxi cuối cùng. Với metan thì phương trình rút gọn thành và độ biến thiên entanpi chuẩn kJ/mol. Dấu âm khẳng định mọi phản ứng cháy đều tỏa nhiệt, bởi các liên kết mạnh trong và bền hơn hẳn các liên kết C–H, C–C và O=O bị phá vỡ ban đầu.
Tuy nhiên, tỏa nhiệt không có nghĩa là phản ứng tự khởi động. Xăng để trong bình vẫn nằm yên giữa không khí vì rào năng lượng hoạt hóa (activation energy) còn cao; phải có tia lửa cấp năng lượng cho vài phân tử đầu tiên thì nhiệt sinh ra mới nuôi tiếp phần còn lại. Ngược lại, nếu oxi thiếu, phản ứng chuyển sang cháy không hoàn toàn và sinh ra độc hoặc muội cacbon, đồng thời tỏa ít nhiệt hơn nhiều so với cháy hoàn toàn.
Do đó, ứng dụng định lượng quan trọng nhất của phản ứng này là phân tích cháy: đốt một khối lượng mẫu đã biết rồi cân riêng và thu được. Từ lượng chất thu được, ta suy ngược ra số mol C và H trong mẫu và tìm ra công thức thực nghiệm. Ngoài ra, vì nhiệt cháy chuẩn của rất nhiều chất đã được đo bằng nhiệt lượng kế, chúng thường được dùng làm dữ liệu đầu vào cho định luật Hess (Hess's law).
Trực giác: Giống như đốt một que diêm: cần quẹt một cái để mồi, nhưng sau đó nó tự cháy hết và tỏa nhiệt ra xung quanh.
Dùng để viết phương trình cháy tổng quát của một hydrocarbon chưa biết công thức; từ đó suy ra hệ số cân bằng ngay mà không cần thử từng bước.
Trong đó
thập niên 1770Antoine-Laurent de LavoisierJohann Joachim BecherGeorg Ernst StahlJoseph Priestley
Năng lượng liên kết của sản phẩm phải LỚN hơn của chất phản ứng thì phản ứng cháy mới tỏa nhiệt.
Nhiều học sinh nhớ ngược, vì quen với ý "tỏa nhiệt là giải phóng năng lượng" rồi kết luận sản phẩm phải có liên kết yếu hơn. Thực ra công thức cho thấy muốn thì tổng số hạng bị trừ, tức tổng năng lượng liên kết (bond dissociation energy) của sản phẩm, phải lớn hơn. Về mặt hóa học điều này rất hợp lý: các liên kết trong và trong nước thuộc loại bền nhất, nên đốt cháy luôn đi từ liên kết yếu sang liên kết bền hơn và tỏa nhiệt ra ngoài.
Công thức năng lượng liên kết là "phá trừ tạo", không phải "tạo trừ phá".
Học sinh hay áp nhầm thói quen từ nhiệt tạo thành chuẩn (standard enthalpy of formation), nơi ta lấy sản phẩm trừ chất phản ứng, rồi bê nguyên trật tự đó sang bài năng lượng liên kết và ra dấu ngược hoàn toàn. Hai công thức khác nhau ở bản chất: năng lượng liên kết đo năng lượng CẦN để bẻ gãy, nên phá liên kết luôn thu nhiệt và mang dấu dương, còn tạo liên kết tỏa nhiệt và mang dấu âm. Cách an toàn nhất là viết ra dòng chữ "broken minus formed" trước khi thay số, và kiểm tra lại bằng trực giác rằng đốt methane bắt buộc phải cho kết quả âm.
Đếm thiếu số mol liên kết là lỗi mất điểm phổ biến nhất trong bài năng lượng liên kết.
Trong có bốn liên kết chứ không phải một, và hai phân tử chứa tổng cộng bốn liên kết chứ không phải hai. Tương tự, có hai liên kết đôi nên phải nhân với . Vì vậy hãy vẽ nhanh công thức Lewis của từng chất rồi nhân số liên kết mỗi loại với hệ số cân bằng trong phương trình, trước khi cộng vào tổng.
Nhiệt lượng nước hấp thụ và biến thiên enthalpy của phản ứng cháy trái dấu nhau.
Trong bài nhiệt lượng kế, tính ra một số DƯƠNG vì nước nóng lên, nhưng đó là nhiệt mà môi trường nhận được. Hệ phản ứng đã mất chính lượng nhiệt đó, nên khi báo cáo của phản ứng cháy bắt buộc phải đổi sang dấu âm. Ngoài ra, trong công thức là khối lượng nước (hoặc cát) hấp thụ nhiệt, không phải khối lượng mẫu nhiên liệu; lấy nhầm mẫu thay cho nước là sai lệch ba bậc độ lớn.
Quiz câu thật từ ngân hàng đề
Vài câu thật gắn đúng khái niệm này, chấm ngay kèm giải thích từng đáp án — hệ thống ghi nhớ bạn nắm tới đâu.
Biên soạn bởi DucklingStudy, bản quyền thuộc DucklingStudy. Xuất bản .
Trước Lavoisier, các nhà hóa học tin rằng mọi vật cháy được đều chứa sẵn một chất gọi là nhiên tố, và khi cháy thì chất ấy thoát ra ngoài. Ý tưởng này do Johann Joachim Becher nêu năm 1669 và được Georg Ernst Stahl hệ thống lại năm 1697, vì nó giải thích gọn ghẽ cả việc luyện kim lẫn việc củi hóa thành tro. Khi Joseph Priestley tìm ra oxygen, ông vẫn diễn giải nó theo khung cũ và gọi đó là "không khí đã khử nhiên tố" (dephlogisticated air), tức thứ khí còn chỗ trống để hút thêm nhiên tố nên duy trì ngọn lửa lâu hơn. Đến thập niên 1770, Lavoisier lật ngược toàn bộ cách nhìn: vật cháy không mất đi thứ gì mà nhận thêm oxygen.
Vì sao mang đúng cái tên này? Tên gọi tiếng Anh bắt nguồn từ tiếng Latin "combustus", nghĩa là "đã bị đốt cháy"; dạng tính từ "combust" đã đi vào tiếng Anh trung đại từ cuối thế kỷ 14 qua đường tiếng Pháp cổ. Vì vậy cái tên chỉ mô tả kết quả quan sát được — vật bị cháy — chứ không hàm ý gì về cơ chế, và điều đó lý giải vì sao thuật ngữ vẫn dùng được nguyên vẹn sau khi cách giải thích bên dưới nó thay đổi hoàn toàn. Ngược lại, từ "phlogiston" lấy từ tiếng Hy Lạp cổ φλογιστόν (bốc cháy), gốc φλόξ nghĩa là ngọn lửa: cái tên gắn chặt với một giả thuyết sai nên đã biến mất cùng giả thuyết ấy.
Bấm từng mức: phá liên kết đi lên, tạo liên kết đi xuống — hiệu hai chiều đó chính là nhiệt của ngọn lửa
Kéo tham số, thấy khái niệm chuyển động — mở khoá bằng tài khoản 0đ.
Luôn viết công thức tổng quát ra giấy trước khi thay số vào bài nhiệt.
Giám khảo chấm theo từng bước, nên dòng hay vẫn được điểm ngay cả khi phép tính phía sau sai số. Kèm theo đó, mọi đại lượng phải có đơn vị và phải nhất quán: hằng số cho theo nên kết quả ra joule, muốn báo cáo kilojoule thì chia cho và ghi rõ phép đổi. Cuối cùng, đừng quên nêu dấu và giải thích một câu vì sao âm — phần chữ này thường chiếm trọn một điểm.
Bài đốt nhiên liệu thường có thêm bước tính khối lượng, đừng dừng lại ở nhiệt lượng.
Đề kiểu "cần bao nhiêu gam butane để nâng nhiệt độ cát lên " đòi ba bước nối nhau: dùng cho cát, chia cho mol của phản ứng cháy để ra số mol butane, rồi nhân với khối lượng mol. Học sinh hay tính xong bước một là chuyển câu, mất hai phần ba số điểm. Vì vậy hãy gạch chân câu hỏi cuối cùng của đề và tự hỏi đơn vị đáp án phải là gì trước khi bắt đầu.
Kết quả từ năng lượng liên kết trung bình chỉ là giá trị gần đúng, và đề có thể hỏi vì sao.
Các giá trị trong bảng là trung bình lấy qua nhiều phân tử khác nhau, nên liên kết thật trong methane không hoàn toàn bằng . Ngoài ra phương pháp này giả định mọi chất đều ở thể khí, nên nếu nước trong phương trình ở thể lỏng thì còn thiếu phần nhiệt ngưng tụ. Một câu giải thích ngắn gọn theo hướng này thường đủ ăn trọn điểm phần lập luận.
Phản ứng cháy của 1 mol metan có kJ/mol. Dấu âm cho thấy đây là quá trình tỏa nhiệt: hệ nhả ra 802 kJ vì các liên kết và trong sản phẩm bền hơn các liên kết và đã bị phá vỡ. Giá trị không dùng đến vì trong chỉ tồn tại liên kết đôi.
Cốc cát cần hấp thụ J, tương ứng với việc đốt cháy hoàn toàn khoảng 5,04 g butane theo phương trình . Đây là giá trị lý tưởng ứng với trường hợp toàn bộ nhiệt đi vào cát; trên thực tế học sinh sẽ phải đốt nhiều hơn 5,04 g vì thất thoát nhiệt ra môi trường và vì phản ứng có thể không cháy hoàn toàn.