AP Chemistry
redox reaction
Còn gọi: redox · phản ứng redox · oxidation-reduction reaction

Phản ứng oxi hóa–khử là quá trình hóa học trong đó các electron được chuyển dịch giữa các chất, làm thay đổi số oxi hóa của chúng.
Phản ứng oxi hóa–khử là loại phản ứng hóa học trong đó xảy ra sự chuyển dịch êlectron (electron) giữa các chất tham gia. Khi một chất nhường êlectron, số oxi hóa của nó tăng lên và ta nói chất đó bị oxi hóa; ngược lại, chất nhận êlectron sẽ có số oxi hóa giảm và bị khử. Do đó, quá trình oxi hóa và quá trình khử luôn diễn ra đồng thời, không thể tách rời nhau.
Để nhận diện loại phản ứng này, ta so sánh số oxi hóa của mỗi nguyên tố trước và sau phản ứng. Chất nhường êlectron được gọi là chất khử, còn chất nhận êlectron là chất oxi hóa. Nhờ đó, ta có thể tách phản ứng thành hai nửa: nửa oxi hóa và nửa khử, gọi là các bán phản ứng. Ví dụ, trong phản ứng giữa kẽm và ion đồng, ta viết: Phương trình này cho thấy mỗi nguyên tử (atom) kẽm nhường đi hai êlectron để trở thành ion kẽm.
Hệ quả quan trọng nhất của việc chuyển dịch êlectron là dòng êlectron có thể di chuyển qua mạch ngoài, tạo ra dòng điện. Vì vậy, pin galvani (galvanic cell) khai thác các phản ứng tự diễn biến để sinh ra điện năng, trong khi bình điện phân (electrolytic cell) lại dùng dòng điện để ép các phản ứng không tự diễn biến xảy ra. Tuy nhiên, dù theo chiều nào thì tổng số êlectron mà chất khử nhường cũng phải đúng bằng tổng số êlectron mà chất oxi hóa nhận.
Trực giác: Hãy tưởng tượng một cuộc giao dịch: người này cho đi tiền thì người kia phải nhận lấy, và trong phản ứng oxi hóa–khử, đồng tiền được trao đổi chính là các electron.
Dùng để viết bán phản ứng oxi hóa (oxidation half-reaction), cho biết chất khử nhường bao nhiêu electron
Trong đó
cuối thế kỷ 18 (tên gọi "redox": 1928)Antoine-Laurent LavoisierJoseph PriestleyG.E. StahlLouis-Bernard Guyton de MorveauLeonor Michaelis
Có phương trình đổi chỗ ion không có nghĩa là có phản ứng oxi hóa–khử.
Khi đề cho và hỏi lời khẳng định của học sinh đúng hay sai, rất nhiều thí sinh thấy có axit mạnh, có khí thoát ra nên vội kết luận là oxi hóa–khử. Tuy nhiên, tiêu chuẩn duy nhất là số oxi hóa (oxidation number) phải thay đổi: ở đây H vẫn , Cl vẫn , S vẫn , O vẫn ở cả hai vế. Do đó đây chỉ là phản ứng axit–bazơ kèm chuyển proton, không có electron nào được chuyển giao, và câu trả lời đúng là bác bỏ lời khẳng định kèm dẫn chứng số oxi hóa không đổi.
Chất bị oxi hóa và chất oxi hóa là hai vai trò ngược nhau.
Chất bị oxi hóa là chất có số oxi hóa tăng, tức nhường electron; chính chất đó lại đóng vai trò chất khử (reducing agent) vì nó khử đối tác của mình. Ngược lại, chất oxi hóa (oxidizing agent) là chất có số oxi hóa giảm, nhận electron và bản thân nó bị khử. Trong , oxi trong đi từ lên nên bị oxi hóa và là chất khử, còn clo đi từ xuống nên là chất oxi hóa. Viết ngược cặp vai trò này là lỗi mất điểm phổ biến nhất ở câu tự luận.
Oxi không phải lúc nào cũng có số oxi hóa .
Quy tắc quen thuộc chỉ đúng cho phần lớn hợp chất; trong peroxide như thì mỗi nguyên tử oxi có số oxi hóa , còn trong đơn chất thì bằng . Nếu cứ gán cho oxi trong , tổng số oxi hóa của phân tử trung hòa sẽ ra thay vì , và học sinh sẽ kết luận nhầm rằng oxi không hề thay đổi. Vì vậy hãy luôn kiểm tra lại bằng điều kiện tổng: tổng số oxi hóa bằng với phân tử trung hòa và bằng điện tích với ion.
"Khử" là giảm số oxi hóa, dù khối lượng hay số nguyên tử có tăng.
Tên gọi dễ gây hiểu nhầm vì nhiều bạn nghĩ bị khử thì phải "mất" cái gì đó. Thực chất chất bị khử là chất nhận electron, nên điện tích quy ước của nó giảm xuống, chẳng hạn có số oxi hóa đi từ về . Một mẹo ghi nhớ được dùng rộng rãi trong đề thi tiếng Anh là OIL RIG: oxidation is loss, reduction is gain, hiểu theo electron chứ không theo khối lượng.
Quiz câu thật từ ngân hàng đề
Vài câu thật gắn đúng khái niệm này, chấm ngay kèm giải thích từng đáp án — hệ thống ghi nhớ bạn nắm tới đâu.
Biên soạn bởi DucklingStudy, bản quyền thuộc DucklingStudy. Xuất bản .
Dùng để viết bán phản ứng khử (reduction half-reaction), cho biết chất oxi hóa nhận bao nhiêu electron
Trong đó
Sự cháy là phản ứng đầu tiên thuộc loại này được con người chú ý, đến mức Empedocles từng xếp lửa ngang hàng với đất, nước và không khí như một nguyên tố. Suốt thế kỷ 18, giới hóa học giải thích hiện tượng bằng thuyết nhiên tố mà G.E. Stahl phát biểu năm 1697, theo đó vật chất khi cháy giải phóng một thành phần gọi là nhiên tố. Khi Priestley phát hiện oxygen năm 1774, Lavoisier nhận ra đây chính là chìa khóa để giải thích việc kim loại và lưu huỳnh nặng thêm sau khi cháy. Trong Traité élémentaire de chimie, ông khẳng định sự cháy là sự kết hợp hóa học giữa oxygen trong khí quyển với chất cháy được.
Vì sao mang đúng cái tên này? Cái tên nghe khó hiểu vì nó là một từ ghép lai: "redox" ghép từ reduction (sự khử) và oxidation (sự oxi hóa), lần đầu xuất hiện trong bài báo năm 1928 của Michaelis và Flexner, còn cụm "redox reaction" thì được ghi nhận từ năm 1936. Phần "ox" trong đó chính là dấu vết của oxygen: từ oxidation do các nhà hóa học Pháp đặt ra năm 1787, sang tiếng Anh năm 1791, và ban đầu chỉ có nghĩa hẹp là "kết hợp với oxygen" đúng theo cách Lavoisier hiểu sự cháy. Vì vậy tên gọi vẫn giữ chữ "ox" dù về sau, nhờ dòng nghiên cứu điện hóa khởi đi từ "điện động vật" của Galvani và chiếc pin Volta (voltaic cell) đầu tiên, người ta hiểu bản chất phản ứng là sự chuyển electron chứ không nhất thiết phải có mặt oxygen. Do đó một phản ứng oxi hóa–khử ngày nay có thể chẳng chứa nguyên tử oxygen nào, nhưng cái tên lịch sử thì ở lại.
Nguồn đối chiếu
Muốn được điểm câu "is this a redox reaction?", phải viết ra số oxi hóa cụ thể.
Giám khảo không cho điểm câu trả lời chỉ có "yes" hoặc "no", kể cả khi kết luận đúng. Cách trình bày an toàn là ghi số oxi hóa của nguyên tố nghi ngờ ở cả vế trái và vế phải, rồi nêu rõ nguyên tố nào tăng, nguyên tố nào giảm bao nhiêu đơn vị. Nếu kết luận là không phải oxi hóa–khử, vẫn phải liệt kê số oxi hóa để chứng minh chúng giữ nguyên; nói suông "không có nguyên tố nào đổi" thường không đủ.
Khi cân bằng nửa phản ứng (half-reaction), làm đúng thứ tự: nguyên tố chính, rồi O, rồi H, rồi điện tích.
Thêm để cân bằng oxi, thêm để cân bằng hidro, cuối cùng thêm vào vế thiếu điện tích âm. Trong môi trường bazơ, cộng thêm số đúng bằng số vào hai vế rồi gộp thành nước, vì không tồn tại đáng kể khi cao. Trước khi cộng hai nửa phản ứng, nhân hệ số sao cho số electron nhường bằng số electron nhận; electron phải triệt tiêu hoàn toàn, nếu còn sót trong phương trình cuối là chắc chắn sai.
Kiểm tra lại cả khối lượng lẫn điện tích trước khi nộp bài.
Một phương trình ion thu gọn cân bằng đúng phải có cùng số nguyên tử mỗi nguyên tố ở hai vế và tổng điện tích hai vế bằng nhau, chứ không chỉ riêng số nguyên tử. Nhiều thí sinh cân bằng xong nguyên tử rồi quên đối chiếu điện tích, dẫn tới mất trọn điểm dù các bước lập luận phía trước hoàn toàn hợp lý. Chỉ mất khoảng mười giây để cộng điện tích hai vế, nên hãy biến thao tác này thành thói quen.
Phản ứng là oxi hóa–khử vì oxi trong tăng từ lên còn clo trong giảm từ xuống . bị oxi hóa nên là chất khử, bị khử nên là chất oxi hóa. Với mol phản ứng hết, có mol electron được chuyển và mol thoát ra.
Khẳng định của học sinh không đúng: trong phản ứng giữa và NaCl, số oxi hóa của mọi nguyên tố (, , , , ) đều không đổi, nên đó là phản ứng chuyển proton chứ không phải oxi hóa–khử. Ngược lại, phản ứng của với trong môi trường axit là oxi hóa–khử thật sự vì giảm từ xuống và tăng từ lên ; với 0,150 mol phản ứng hết thì có 0,300 mol electron được chuyển.