AP Chemistry
half-reaction
Còn gọi: bán phản ứng

Nửa phản ứng là phương trình chỉ mô tả riêng quá trình oxi hóa hoặc riêng quá trình khử, trong đó số electron trao đổi được viết rõ.
Trong một phản ứng oxi hóa–khử (redox reaction), việc cho và nhận điện tử luôn xảy ra đồng thời, nhưng để tính toán cho gọn người ta thường tách hai việc đó ra và xét từng cái một. Mỗi phương trình tách ra như vậy là một nửa phản ứng, và điểm khác biệt so với phương trình tổng là điện tử được viết hiện ra như một chất thật sự tham gia. Ở nửa oxi hóa, điện tử nằm bên sản phẩm vì chất đó bị mất điện tử. Ngược lại, ở nửa khử, điện tử nằm bên chất phản ứng vì chất đó nhận thêm điện tử. Chẳng hạn với phản ứng giữa và , ta viết và .
Hai nửa này không độc lập với nhau, bởi điện tử không thể tự sinh ra hay biến mất giữa chừng. Do đó điều kiện ghép nối là
nghĩa là số mol điện tử mà chất khử (reducing agent) nhường phải đúng bằng số mol điện tử mà chất oxi hóa nhận. Vì vậy, khi đã nhân hệ số để hai con số này bằng nhau, cộng hai nửa phản ứng lại thì điện tử ở hai vế triệt tiêu và ta thu được phương trình tổng (overall reaction) đã cân bằng cả nguyên tố lẫn điện tích. Đây chính là cốt lõi của phương pháp nửa phản ứng, trong đó môi trường axit được cân bằng thêm bằng và , còn môi trường bazơ thì dùng thêm .
Ý nghĩa của cách tách này vượt xa việc cân bằng phương trình. Trong pin điện hóa, mỗi nửa phản ứng thực sự diễn ra ở một điện cực (electrode) riêng, nên bảng thế khử chuẩn được lập theo từng nửa phản ứng chứ không theo phản ứng tổng. Nhờ đó, người học có thể lắp ghép hai nửa bất kỳ để dự đoán chiều tự diễn biến và tính , tức hiệu hai thế khử chuẩn của nửa xảy ra ở catot và nửa xảy ra ở anot.
Trực giác: Giống như ghi sổ một vụ chuyển tiền: một bên ghi "chi ra", một bên ghi "thu vào", và hai con số bắt buộc phải khớp nhau.
Dùng để viết nửa phản ứng oxi hóa, cho thấy electron là sản phẩm
Trong đó
Dùng để viết nửa phản ứng khử, cho thấy electron là chất tham gia
Trong đó
Một phương trình oxi hóa – khử đầy đủ thường rất khó cân bằng, vì số nguyên tử và số oxi hóa thay đổi cùng lúc ở nhiều chất. Cách xử lý là tách nó ra: xét riêng chất nhường electron, rồi xét riêng chất nhận electron, cân bằng từng phần một rồi mới ghép lại. Nhu cầu thứ hai đến từ điện hóa. Trong một pin Galvani (galvanic cell), hai quá trình này thực sự diễn ra ở hai nơi tách biệt nhau trong không gian — một ở cực dương (anode), một ở cực âm (cathode) — nên viết chúng thành hai phương trình riêng không phải là mẹo tính toán mà là mô tả đúng hiện thực vật lý.
Electron được thêm sau cùng, không dùng để cân nguyên tử.
Nhiều học sinh thấy thiếu O hay thiếu H liền nhét thêm cho "đủ", nhưng electron không phải nguyên tử nên nó không hề làm thay đổi số O, số H hay số nguyên tử kim loại. Trong môi trường acid, O được cân bằng và H được cân bằng ; chỉ khi mọi nguyên tử đã khớp thì mới thêm vào một vế để tổng điện tích hai vế bằng nhau. Do đó thứ tự bắt buộc là nguyên tử chính trước, rồi O, rồi H, và điện tích sau cùng — đảo thứ tự này thì gần như chắc chắn ra sai hệ số.
Trong nhánh khử, electron phải nằm ở vế trái cùng với chất bị khử.
Với , nitơ đi từ số oxi hóa xuống , tức là nhận electron, nên đứng ở vế trái như một chất tham gia. Cân bằng đầy đủ cho : hai phân tử nước lo bốn nguyên tử O dư, bốn lo bốn nguyên tử H, còn ba electron kéo điện tích vế trái từ về để khớp với vế phải. Ngược lại, đặt ở vế phải là biến nó thành nhánh oxi hóa, và đặt cùng phía với thì vĩnh viễn không cân được oxi.
Hệ số nhân phải làm số electron của hai nhánh bằng nhau, không phải nhân tùy ý.
Khi nhánh oxi hóa nhường và nhánh khử nhận , ta lấy bội chung nhỏ nhất của và là , rồi nhân nhánh nhường với và nhánh nhận với để cả hai cùng có . Lỗi phổ biến là nhân ngược — oxi hóa nhân , khử nhân — cho ra và , hoặc nhân cả hai với cho ra và ; cả hai trường hợp electron đều không triệt tiêu hết. Phương trình tổng của phản ứng oxi hóa–khử không bao giờ được còn sót lại, vì vậy hãy kiểm tra lại phép nhân trước khi cộng hai vế.
Thế điện cực không nhân với hệ số khi ta nhân đôi hay nhân ba một nhánh.
Thế khử chuẩn (standard reduction potential) là đại lượng cường tính (intensive property), phụ thuộc bản chất cặp oxi hóa–khử chứ không phụ thuộc lượng chất, nên dù viết thì giá trị vẫn là V. Học sinh hay nhân V rồi cộng trừ lung tung, dẫn tới sai cả dấu lẫn độ lớn của . Hệ số chỉ đi vào trong biểu thức , tức số mol electron trao đổi, chứ không đi vào chính giá trị thế.
Quiz câu thật từ ngân hàng đề
Vài câu thật gắn đúng khái niệm này, chấm ngay kèm giải thích từng đáp án — hệ thống ghi nhớ bạn nắm tới đâu.
Biên soạn bởi DucklingStudy, bản quyền thuộc DucklingStudy. Xuất bản .
Điều kiện để cộng hai nửa phản ứng thành phương trình oxi hóa-khử hoàn chỉnh: tổng electron nhường bằng tổng electron nhận
Trong đó
Viết bốn bước cân bằng ra nháp trước khi động vào con số.
Ghi thẳng thứ tự "nguyên tử chính → O bằng → H bằng → điện tích bằng " ở góc giấy, rồi làm theo đúng dãy đó cho từng nhánh. Nếu đề nói môi trường base, hãy cân trong môi trường acid trước rồi thêm vào hai vế số đúng bằng số và gộp thành nước. Cách làm máy móc này tốn ba mươi giây nhưng loại bỏ gần hết lỗi hệ số trong phần trắc nghiệm.
Kiểm tra lại cả số nguyên tử lẫn tổng điện tích trước khi khoanh đáp án.
Giám khảo phần tự luận chấm riêng hai tiêu chí này, và một phương trình cân đúng nguyên tử nhưng lệch điện tích vẫn mất điểm trọn vẹn. Hãy cộng nhanh điện tích từng vế ra lề giấy, chẳng hạn đối chiếu với ở vế phải, rồi mới yên tâm chuyển câu.
Với bài pin điện, xác định điện cực oxi hóa (anode) và điện cực khử (cathode) trước khi tính toán.
Luôn viết ra công thức để tránh cộng nhầm dấu; ví dụ với cặp Ni–Ag thì V, giá trị dương nên phản ứng tự diễn biến. Khi âm, hãy nói rõ trong bài rằng và phản ứng cần nguồn điện ngoài, tức là một quá trình điện phân chứ không phải pin galvanic.
Nửa phản ứng khử cân bằng trong môi trường acid là : mỗi ion nitrate nhận 3 electron và tiêu thụ 4 ion để tạo một phân tử cùng hai phân tử nước. Electron được đặt ở vế trái vì đây là nhánh khử, và nó chỉ xuất hiện ở bước cuối vì trước đó tổng điện tích hai vế còn thay đổi theo từng lần thêm .
Nhánh oxi hóa được nhân với 5, nhánh khử được nhân với 2, đưa cả hai về cùng để electron triệt tiêu khi cộng. Phương trình ion tổng cộng là , cân bằng cả về số nguyên tử lẫn điện tích ( ở mỗi vế). Nói theo ngôn ngữ chuẩn độ: cứ 2 mol phản ứng vừa đủ với 5 mol oxalate, tỉ lệ mà bài toán tính nồng độ sẽ dùng đến.