AP Chemistry
oxidation number
Còn gọi: oxidation state · trạng thái oxi hóa

Số oxi hóa là số nguyên gán cho mỗi nguyên tử theo quy ước coi mọi liên kết là ion, dùng để nhận biết và cân bằng phản ứng oxi hóa–khử.
Khi hai nguyên tử khác nhau góp chung êlectron (electron), cặp êlectron liên kết luôn bị kéo lệch về phía nguyên tử có độ âm điện lớn hơn. Số oxi hóa ra đời từ việc đẩy sự lệch ấy tới cực đoan: ta giả vờ rằng nguyên tử âm điện hơn đã giành trọn cặp êlectron, rồi đếm xem mỗi nguyên tử thừa hay thiếu bao nhiêu êlectron so với dạng nguyên tử trung hòa. Con số thu được là một quy ước kế toán chứ không phải điện tích thật đo được, nhưng chính vì nó tuân theo luật cộng chặt chẽ nên nó rất hữu dụng.
Luật cộng đó phát biểu rằng tổng số oxi hóa của mọi nguyên tử trong một tiểu phân phải bằng điện tích của tiểu phân đó:
trong đó là số nguyên tử của nguyên tố thứ , là số oxi hóa của nó và là điện tích tổng. Nhờ hệ thức này, chỉ cần biết vài giá trị quen thuộc là suy ra được phần còn lại. Chẳng hạn với , gán oxi bằng ta có , suy ra cho crom.
Các quy ước nền tảng khá ít: nguyên tố ở dạng đơn chất luôn mang giá trị , ion đơn nguyên tử mang đúng điện tích của nó, flo luôn là , oxi thường là (trừ trong peoxit là ), còn hiđro là khi gắn với phi kim và trong hiđrua kim loại. Do đó, khi so sánh hai vế của một phương trình, nguyên tử nào tăng số oxi hóa thì đã nhường êlectron và đóng vai trò chất khử (reducing agent); nguyên tử nào giảm thì nhận êlectron và là chất oxi hóa (oxidizing agent). Tuy nhiên, cần phân biệt đại lượng này với điện tích hình thức (formal charge), vốn chia đôi cặp êlectron liên kết thay vì trao trọn cho một bên. Vì vậy, số oxi hóa chính là công cụ để đếm êlectron trao đổi khi cân bằng bán phản ứng trong pin điện hóa.
Trực giác: Giống như chia hóa đơn bàn ăn theo quy ước: mỗi món ăn chung thì ghi hết chi phí vào người đã gọi món đó — không phản ánh đúng việc ai thực sự gắp miếng nào, nhưng tổng tiền vẫn khớp.
Dùng cho hợp chất trung hòa về điện: tổng số oxi hóa của tất cả nguyên tử phải bằng 0.
Trong đó
Dùng cho ion đa nguyên tử: tổng số oxi hóa của tất cả nguyên tử bằng đúng điện tích của ion đó.
Trong đó
1938Antoine LavoisierFriedrich WöhlerDmitri MendeleevWendell Mitchell LatimerLinus Pauling
Oxi không phải lúc nào cũng có số oxi hóa .
Đây là quy tắc mặc định, không phải luật bất biến, và đề AP rất thích khai thác đúng chỗ ngoại lệ này. Trong peroxide như , hai nguyên tử oxi liên kết trực tiếp với nhau nên cặp electron dùng chung được chia đôi, mỗi nguyên tử chỉ mang . Ngược lại, trong đơn chất cả hai nguyên tử giống hệt nhau nên không nguyên tử nào giành được electron, số oxi hóa bằng . Vì vậy khi thấy liên kết O–O, hoặc thấy oxi liên kết với flo, hãy dừng lại kiểm tra thay vì gán theo phản xạ.
Số oxi hóa không phải điện tích thật của nguyên tử.
Nó là con số quy ước, gán ra bằng cách giả định mọi liên kết cộng hóa trị đều bị kéo hoàn toàn về phía nguyên tử có độ âm điện (electronegativity) lớn hơn. Nguyên tử cacbon trong mang số oxi hóa , nhưng nó tuyệt nhiên không mang bốn đơn vị điện tích âm; phân tử này gần như không phân cực. Nhầm hai khái niệm sẽ dẫn tới lỗi nặng hơn ở câu tự luận, khi học sinh dùng số oxi hóa để lập luận về lực hút tĩnh điện hay về độ tan. Hãy nhớ số oxi hóa chỉ là công cụ đếm electron để theo dõi quá trình oxi hóa – khử (redox).
Tổng số oxi hóa trong ion đa nguyên tử bằng điện tích ion, không bằng không.
Rất nhiều bài mất điểm vì học sinh áp quy tắc "tổng bằng " cho hay . Với ion đicromat, phép tính đúng là , cho ; nếu đặt vế phải bằng thì kết quả lệch hẳn và toàn bộ phần cân bằng phản ứng phía sau sẽ sai theo. Quy tắc tổng quát chỉ có một câu: tổng số oxi hóa của mọi nguyên tử bằng điện tích của tiểu phân, mà phân tử trung hòa chỉ là trường hợp điện tích bằng .
Kim loại chuyển tiếp không có số oxi hóa cố định, phải suy từ công thức.
Học sinh quen với nhóm IA luôn và nhóm IIA luôn nên hay áp máy móc cho sắt, đồng, mangan hay crom. Trong sắt là còn trong sắt là , và chính sự thay đổi này mới là nội dung mà câu hỏi muốn kiểm tra. Do đó với mọi hợp chất chứa kim loại chuyển tiếp, hãy gán số oxi hóa cho các nguyên tố có quy tắc chắc chắn trước, rồi giải ẩn còn lại.
Quiz câu thật từ ngân hàng đề
Vài câu thật gắn đúng khái niệm này, chấm ngay kèm giải thích từng đáp án — hệ thống ghi nhớ bạn nắm tới đâu.
Biên soạn bởi DucklingStudy, bản quyền thuộc DucklingStudy. Xuất bản .
Vào cuối thế kỷ 18, Lavoisier định nghĩa sự oxi hóa là phản ứng của một chất với oxygen, và chính cách nhìn nhị nguyên lấy oxygen làm gốc ấy đã sinh ra nhu cầu đo xem một nguyên tử "bị oxi hóa đến mức nào". Năm 1835, Friedrich Wöhler gọi các mức đó là bậc oxi hóa, và Dmitri Mendeleev đã dùng chúng như một trong những bậc thang trí tuệ để dựng nên bảng tuần hoàn. Đến năm 1938, khi Latimer viết về thế điện hóa, ông cần một đại lượng nối trực tiếp với số electron trao đổi trong các cặp oxi hóa – khử; từ đó khái niệm gắn chặt với electron chứ không còn gắn với oxygen nữa. Năm 1948, Linus Pauling đề xuất xác định nó bằng cách kéo mọi liên kết về trạng thái ion hoàn toàn theo chiều độ âm điện (electronegativity).
Vì sao mang đúng cái tên này? Cái tên nghe lạ vì nó là di sản của một định nghĩa đã lỗi thời: với Lavoisier, "oxi hóa" nghĩa đen là kết hợp với oxygen, nên con số đo mức độ kết hợp ấy được gọi là số oxi hóa. Về sau ý nghĩa được tổng quát hóa thành sự mất electron một cách hình thức, nhưng cái tên cũ vẫn ở lại. Trước Latimer, tiếng Anh gọi đại lượng này bằng nhiều tên khác nhau như hóa trị, hóa trị phân cực (polar valence) hay số phân cực; thuật ngữ "oxidation state" mà ông dùng tương ứng với chữ Wertigkeit trong tiếng Đức. Do đó, đến năm 1948 IUPAC chính thức chọn cách gọi này thay cho hóa trị trong danh pháp, và từ đó hai lối nói số oxi hóa với trạng thái oxi hóa (oxidation state) được dùng gần như đồng nghĩa.
Viết rõ số oxi hóa trước và sau phản ứng cho mỗi nguyên tố bị thay đổi.
Ở câu tự luận, giám khảo chấm theo lập luận chứ không chỉ theo kết luận, nên câu trả lời kiểu "E bị oxi hóa" mà không kèm con số thường chỉ được một phần điểm. Cách trình bày an toàn là một câu duy nhất: nguyên tố E đi từ lên , tức là mất electron, nên bị oxi hóa và đóng vai trò chất khử (reducing agent). Khi đã có hai con số cụ thể trên giấy, phần kết luận gần như tự bảo vệ được chính nó.
Đừng lẫn chất bị oxi hóa với chất oxi hóa.
Chất bị oxi hóa là chất có số oxi hóa tăng và mất electron; chính nó lại là chất khử vì nó đưa electron cho đối tác. Ngược lại, chất oxi hóa (oxidizing agent) là chất nhận electron và có số oxi hóa giảm. Trong phòng thi, hãy tự nhắc một mẹo ngắn: cứ xác định dấu của độ biến thiên số oxi hóa trước, rồi mới đặt tên vai trò, vì đặt tên trước rất dễ nói ngược.
Kiểm tra lại bằng phép cộng tổng trước khi sang câu tiếp theo.
Sau khi gán xong số oxi hóa cho toàn bộ nguyên tử trong một công thức, cộng nhanh tất cả lại và đối chiếu với điện tích của tiểu phân; lệch một đơn vị nghĩa là có chỗ sai. Thao tác này mất chưa tới mười giây nhưng cứu được cả chuỗi câu phía sau, đặc biệt trong bài cân bằng phương trình oxi hóa – khử nơi mọi hệ số đều phụ thuộc vào số electron trao đổi. Ngoài ra, hãy nhớ hydro là khi gặp phi kim nhưng là trong hydride kim loại như .
Hydrogen giảm số oxi hóa từ (trong HCl) xuống (trong H₂) nên bị khử, còn kim loại E bị oxi hóa. Tỉ lệ 0.150 mol electron trên 0.0500 mol E cho thấy mỗi nguyên tử E nhường 3 electron, nghĩa là E có số oxi hóa trong muối ; phản ứng tổng cộng là .
Bromine trong có số oxi hóa , còn oxygen trong là do liên kết O–O. Trong phản ứng điều chế Br₂, manganese giảm từ xuống nên bị khử, còn bromine tăng từ lên nên bị oxi hóa; phương trình cân bằng là .