AP Chemistry
formal charge
Còn gọi: điện tích quy ước

Điện tích hình thức là đại lượng quy ước đánh giá sự phân bố electron trong cấu trúc phân tử, giả định rằng các cặp electron liên kết được chia đều.
Điện tích hình thức (formal charge) là đại lượng quy ước đánh giá sự phân bố êlectron trong cấu trúc phân tử. Khi vẽ công thức Lewis, thí sinh cần xác định nguyên tử nào mang điện tích dương hoặc âm để tìm ra mô hình bền nhất. Do đó, việc tính toán đại lượng này giúp ích rất nhiều trong việc lựa chọn cấu trúc ưu tiên giữa nhiều khả năng.
Công thức tính điện tích hình thức của một nguyên tử được viết là . Trong biểu thức này, đại diện cho số êlectron hóa trị (valence electrons) của nguyên tử khi đứng một mình, là số cặp êlectron chưa liên kết (lone pairs), và là tổng số êlectron đang tham gia liên kết. Nhờ vào giả định rằng mọi cặp êlectron liên kết đều được phân bổ đều cho hai nguyên tử, ta có thể gán một giá trị điện tích cụ thể cho từng vị trí trong phân tử.
Tổng đại số các điện tích hình thức trong một phân tử trung hòa luôn phải bằng không, trong khi ở một ion đa nguyên tử thì nó bằng đúng điện tích của ion đó. Tuy nhiên, cấu trúc có các giá trị điện tích nhỏ nhất và mang dấu âm trên nguyên tử có độ âm điện (electronegativity) lớn nhất thường sẽ bền vững hơn. Vì vậy, công cụ này đóng vai trò như một tiêu chí quan trọng để sàng lọc các mô hình liên kết hợp lý.
Trực giác: Hãy tưởng tượng hai người cùng góp tiền mua một món đồ chung; điện tích hình thức coi như họ chia đều quyền sở hữu món đồ đó bất kể ai thực sự bỏ ra nhiều tiền hơn.
Dùng để xác định điện tích trên mỗi nguyên tử trong cấu trúc Lewis, từ đó chọn cấu trúc bền nhất: tổng các điện tích hình thức bằng điện tích toàn phần của phân tử hoặc ion, đồng thời mỗi điện tích riêng lẻ nên gần 0 nhất có thể và điện tích âm ưu tiên nằm trên nguyên tử có độ âm điện lớn hơn.
Trong đó
1916Gilbert N. Lewis
Khi Lewis đề xuất rằng liên kết hóa học là hai nguyên tử cùng chia sẻ một cặp electron, hóa học lập tức có một câu hỏi kế toán: sau khi ghép cặp xong, mỗi nguyên tử còn "giữ" bao nhiêu electron so với lúc nó đứng riêng? Điện tích hình thức là câu trả lời cho câu hỏi đó, và nó lớn lên cùng khái niệm cộng hưởng (resonance) như một công cụ chọn ra cấu trúc Lewis (Lewis structure) hợp lý nhất. Quy ước tính rất thẳng thắn:
Trong đó là số electron hóa trị của nguyên tử trung hòa khi đứng một mình, là số electron hóa trị không tham gia liên kết, còn là tổng số electron nằm trong các liên kết. Nhờ đó người ta biết ngay nguyên tử nào đang "thừa" hay "thiếu" electron trên giấy.
Quên chia đôi electron liên kết là lỗi phổ biến nhất khi tính điện tích hình thức.
Công thức đúng là , trong đó là số electron hóa trị của nguyên tử tự do, là số electron chưa liên kết (nonbonding electrons) và là tổng số electron nằm trong các liên kết của nguyên tử đó. Với một oxygen mang ba cặp electron chưa liên kết và một liên kết đơn, phép tính đúng cho ; nếu cộng thẳng thì ra , một đáp án sai luôn có mặt trong các phương án nhiễu. Hãy nhớ rằng mỗi liên kết được chia đôi vì ta giả định hai nguyên tử chia đều electron liên kết, nên nguyên tử chỉ được tính một nửa số electron ấy.
Điện tích hình thức không phải số oxi hóa (oxidation number).
Số oxi hóa gán TOÀN BỘ cặp electron liên kết cho nguyên tử âm điện hơn, còn điện tích hình thức chia ĐỀU cặp electron ấy cho hai nguyên tử bất kể độ âm điện. Do đó oxygen trong nước có số oxi hóa nhưng điện tích hình thức bằng , và hai con số này thường khác nhau trong cùng một cấu trúc. Đề thi hay đặt hai khái niệm cạnh nhau để xem thí sinh có đọc kỹ chữ "formal" hay không, vì vậy phải xác định câu hỏi đang hỏi đại lượng nào trước khi đặt bút.
Oxygen không phải lúc nào cũng có điện tích hình thức bằng không.
Nhiều thí sinh mặc định rằng nguyên tử âm điện thì trung hòa, rồi khoanh mà bỏ hẳn bước đếm electron. Thực tế điện tích hình thức chỉ phụ thuộc vào cách nguyên tử được vẽ trong cấu trúc Lewis: oxygen với hai liên kết mới có , còn oxygen một liên kết đơn có và oxygen ba liên kết có . Vì vậy hãy đếm thật sự trên hình vẽ chứ đừng suy đoán từ danh tính nguyên tố.
Quy tắc octet có quyền phủ quyết cao hơn tiêu chí điện tích hình thức nhỏ.
Với , đúng là vẽ hai liên kết đôi sẽ hạ điện tích hình thức của nitrogen từ về , nghe có vẻ hấp dẫn hơn. Tuy nhiên khi đó nitrogen bị bao quanh bởi electron, mà nguyên tử chu kỳ 2 không có orbital nên tuyệt đối không được vượt octet. Ngược lại, tổng điện tích hình thức trong cả hai cấu trúc vẫn bằng đúng bằng điện tích ion, nên tổng điện tích không hề là lý do để loại; lý do duy nhất là octet bị vi phạm.
Quiz câu thật từ ngân hàng đề
Vài câu thật gắn đúng khái niệm này, chấm ngay kèm giải thích từng đáp án — hệ thống ghi nhớ bạn nắm tới đâu.
Biên soạn bởi DucklingStudy, bản quyền thuộc DucklingStudy. Xuất bản .
Vì sao mang đúng cái tên này? Chữ "hình thức" trong tên gọi nghe có vẻ chê bai, nhưng đó chính là điểm mấu chốt: đại lượng này là một quy ước hình thức (formalism), không phải điện tích đo được trong thực tế. Nó được tính với giả định rằng electron trong mọi liên kết được chia đều tuyệt đối cho hai nguyên tử, bất kể độ âm điện của chúng chênh nhau bao nhiêu. Vì vậy tên gọi tự nó đã cảnh báo người dùng đừng hiểu con số ấy theo nghĩa đen. Đây cũng là chỗ phân biệt nó với số oxi hóa (oxidation state), vốn đi theo giả định ngược lại là dồn hết electron liên kết cho nguyên tử có độ âm điện lớn hơn; hai cách ghi sổ cùng mô tả một phân tử nhưng cho hai bộ số khác nhau.
Khi hai cấu trúc có cùng tập điện tích hình thức, độ âm điện mới là tiêu chí phân định.
Không ít thí sinh chọn cấu trúc đặt điện tích âm lên nguyên tử trung tâm vì nghĩ vị trí trung tâm "quan trọng hơn", nhưng vị trí trong khung phân tử không quyết định gì cả. Nguyên tử càng âm điện thì càng giữ mật độ electron dư ổn định, nên điện tích phải nằm trên oxygen chứ không phải trên nitrogen. Cũng đừng vội gọi hai cấu trúc ấy là hai dạng cộng hưởng (resonance structures) tương đương: chúng khác nhau ở nơi đặt điện tích âm nên một cấu trúc đóng góp nhiều hơn hẳn cấu trúc kia.
Trong phần tự luận, hãy viết ra phép tính điện tích hình thức chứ đừng chỉ ghi kết quả.
Người chấm cho điểm theo từng bước, nên một dòng dạng thể hiện rõ bạn đã tách được electron chưa liên kết khỏi electron liên kết. Nếu chỉ ghi "FC = 0" mà đáp án lệch dấu, bạn mất trọn điểm; còn khi có phép tính, một sai sót số học nhỏ vẫn có thể được giữ lại điểm phương pháp.
Luôn kiểm tra tổng các điện tích hình thức trước khi nộp câu trả lời.
Tổng này bắt buộc bằng với phân tử trung hòa và bằng điện tích tổng với ion, chẳng hạn cho hay cho . Đây là phép thử nhanh trong vài giây và bắt được hầu hết lỗi đếm electron hoặc lỗi đảo dấu. Tuy nhiên hãy nhớ tổng đúng chưa đảm bảo cấu trúc đúng, vì một cấu trúc vi phạm octet vẫn có thể cho tổng đúng.
Khi được yêu cầu chọn cấu trúc Lewis tốt nhất, hãy chạy tiêu chí theo đúng thứ tự ưu tiên.
Trước hết loại mọi cấu trúc vi phạm octet đối với nguyên tử chu kỳ 2; tiếp theo chọn cấu trúc có các điện tích hình thức gần nhất; cuối cùng, nếu vẫn hòa, đặt điện tích âm lên nguyên tử âm điện hơn. Đảo thứ tự này chính là cái bẫy quen thuộc của các câu về và , và khi giải thích bằng lời bạn nên nêu rõ mình đang dùng tiêu chí nào ở bước nào.
Trong cấu trúc Lewis chuẩn của , nitrogen có điện tích hình thức , oxygen nối đôi có và mỗi oxygen nối đơn có , tổng lại đúng bằng là điện tích của ion. Cấu trúc hai liên kết đôi tuy đưa điện tích hình thức của nitrogen về nhưng buộc nitrogen phải bao quanh mình electron, vượt quá sức chứa của lớp electron thứ hai, nên bị loại. Nói cách khác, điện tích hình thức chỉ được dùng để so sánh các cấu trúc đều đã thỏa quy tắc bát tử, chứ không được viện ra để biện minh cho một cấu trúc vi phạm nó.
Cả hai cấu trúc đều cho tập điện tích hình thức và đều giữ bát tử, nhưng cấu trúc P đặt điện tích lên oxygen còn cấu trúc Q đặt lên nitrogen. Vì oxygen có độ âm điện lớn hơn nitrogen, cấu trúc P là mô hình tốt hơn cho ion cyanate và là dạng cộng hưởng đóng góp nhiều nhất vào cấu trúc thật. Khi gặp dạng câu hỏi này trong đề, hãy trả lời theo đúng hai nhịp: trước hết so độ lớn điện tích hình thức, khi hòa nhau mới xét xem điện tích âm có nằm đúng trên nguyên tử âm điện hơn hay không.