AP Chemistry
Lewis diagram
Còn gọi: Lewis structure · cấu trúc Lewis · sơ đồ Lewis · công thức electron

Công thức Lewis là cách biểu diễn phân tử bằng ký hiệu nguyên tố, dấu chấm cho electron hóa trị và gạch nối cho các cặp electron liên kết.
Khi hai nguyên tử phi kim gặp nhau, thứ quyết định chúng gắn với nhau ra sao chính là các điện tử hóa trị ở lớp ngoài cùng. Công thức Lewis là ngôn ngữ hình vẽ để ghi lại điều đó, vì mỗi điện tử hóa trị được vẽ thành một dấu chấm quanh ký hiệu nguyên tố, còn mỗi cặp dùng chung giữa hai nguyên tử được rút gọn thành một gạch nối. Nhờ quy ước đơn giản này, một phân tử (molecule) vốn trừu tượng trở thành hình vẽ đếm được, nên người học có thể kiểm tra tính hợp lý của nó chỉ bằng phép cộng.
Quy trình dựng hình bắt đầu bằng việc đếm tổng số điện tử hóa trị của cả phân tử, cộng thêm điện tích âm hoặc trừ đi điện tích dương nếu đó là ion. Sau đó ta đặt nguyên tử có độ âm điện nhỏ nhất ở trung tâm, nối các nguyên tử biên bằng liên kết đơn, rồi rải phần điện tử còn lại thành các cặp chưa liên kết sao cho mỗi nguyên tử đạt tám điện tử, tức là thỏa mãn quy tắc bát tử, riêng nguyên tử hydrogen chỉ cần hai. Nếu số điện tử không đủ, ta chuyển một cặp chưa liên kết thành liên kết đôi hoặc liên kết ba. Ngược lại, các nguyên tử từ chu kỳ 3 trở xuống như hay có thể chứa nhiều hơn tám điện tử, cho ra bát tử mở rộng.
Khi nhiều cách vẽ cùng thỏa mãn số điện tử, ta chọn cách hợp lý hơn bằng điện tích hình thức (formal charge):
trong đó là số điện tử hóa trị của nguyên tử tự do, là số điện tử chưa liên kết và là số điện tử tham gia liên kết của nguyên tử đó. Công thức được ưu tiên là công thức có các gần nhất, và nếu buộc phải có điện tích âm thì điện tích đó nên nằm trên nguyên tử có độ âm điện lớn hơn. Vì vậy, công thức Lewis là bước bắt buộc trước khi suy ra hình học phân tử (molecular geometry), độ phân cực và các cấu trúc cộng hưởng (resonance structure).
Trực giác: Giống như sơ đồ chỗ ngồi trong bữa tiệc: mỗi nguyên tử phải đủ tám ghế quanh mình, ghế nào hai người cùng ngồi thì đó là một liên kết.
Dùng khi vẽ công thức Lewis để so sánh các cách sắp xếp liên kết khác nhau; cấu trúc có điện tích hình thức (formal charge) gần 0 nhất và điện tích âm nằm trên nguyên tử có độ âm điện lớn hơn là cấu trúc bền nhất.
Trong đó
1916Gilbert N. Lewis
Đầu thế kỷ 20, các nhà hóa học đã tích lũy vô số dữ liệu về việc nguyên tử nào kết hợp với nguyên tử nào, nhưng chưa có một cách ghi chung nào diễn tả được bản chất electron của liên kết. Electron được phát hiện năm 1897, rồi các mô hình nguyên tử của Rutherford và Bohr xác nhận electron phân bố quanh hạt nhân; tuy nhiên khoảng cách từ những hiểu biết ấy đến một công cụ thực dụng cho người làm hóa vẫn còn rất xa. Năm 1916, tại Đại học California, Berkeley, Lewis lấp chỗ trống đó bằng một cách vẽ đơn giản đến bất ngờ: chấm các electron hóa trị (valence electrons) quanh ký hiệu nguyên tố. Cùng bài báo ấy, ông trình bày ý tưởng dùng chung electron tạo liên kết cộng hóa trị (covalent bond), chuyển electron tạo liên kết ion, và quy tắc bát tử (octet rule).
Liên kết đôi chỉ tính là một miền electron, không phải hai.
Rất nhiều thí sinh đếm mỗi gạch nối trong công thức là một hướng đẩy riêng, nên gán cho nguyên tử carbon nối với oxygen trong acetone bốn miền và trả lời . Thực ra nguyên tử ấy chỉ có ba miền electron (electron domain): hai liên kết đơn với hai nguyên tử carbon và một liên kết đôi với oxygen, vì cả hai cặp electron của liên kết đôi cùng nằm giữa một cặp nguyên tử nên chỉ đẩy theo một hướng. Do đó hình học là tam giác phẳng và góc liên kết xấp xỉ . Quy tắc an toàn: đếm số nguyên tử gắn trực tiếp cộng với số cặp electron chưa liên kết (lone pair), không đếm số gạch nối.
Cặp electron chưa liên kết vẫn chiếm một miền, dù nó không nối tới nguyên tử nào.
Khi nhìn , nhiều bạn chỉ thấy ba liên kết N–H rồi kết luận phân tử phẳng với góc . Nhưng cặp electron chưa liên kết trên nguyên tử nitrogen cũng đẩy các cặp khác, nâng tổng lên bốn miền và ép bộ khung về dạng tứ diện. Vì vậy góc H–N–H gần , còn hình dạng phân tử (molecular geometry) mà ta nhìn thấy là chóp tam giác. Hãy tách bạch hai câu hỏi: sắp xếp miền electron quyết định góc, còn vị trí các nguyên tử mới quyết định tên hình dạng.
Công thức Lewis giống nhau về hình dạng không có nghĩa là tính base giống nhau.
và đều có một cặp electron chưa liên kết trên nitrogen, nên không ít thí sinh kết luận hai chất mạnh như nhau, hoặc suy đoán mạnh hơn vì fluorine "nhiều electron hơn". Lập luận đúng phải đi qua độ âm điện (electronegativity): ba nguyên tử fluorine kéo mật độ electron ra xa nitrogen, làm cặp electron chưa liên kết kém sẵn sàng nhận proton. Do đó là base yếu hơn . Khi đề cho công thức Lewis rồi hỏi tính chất, hãy dùng công thức như điểm xuất phát chứ đừng coi nó là câu trả lời.
Vẽ thiếu cặp electron chưa liên kết là mất điểm dù bộ khung liên kết đúng.
Một công thức Lewis chỉ được chấm là hợp lệ khi tổng số electron vẽ ra bằng đúng tổng electron hóa trị của các nguyên tử, và mỗi nguyên tử (trừ hydrogen) thường đạt octet. Với acetone , tổng là electron, tức 12 cặp; nếu vẽ xong mà đếm chỉ ra 10 cặp thì chắc chắn đã bỏ quên hai cặp trên oxygen. Ngoài ra nên kiểm tra điện tích hình thức (formal charge) để chọn cấu trúc hợp lý nhất khi có nhiều cách vẽ.
Quiz câu thật từ ngân hàng đề
Vài câu thật gắn đúng khái niệm này, chấm ngay kèm giải thích từng đáp án — hệ thống ghi nhớ bạn nắm tới đâu.
Biên soạn bởi DucklingStudy, bản quyền thuộc DucklingStudy. Xuất bản .
Vì sao mang đúng cái tên này? Tên gọi đơn giản là lấy theo tên người đề xuất, Gilbert N. Lewis, giống như nhiều công cụ biểu diễn khác trong khoa học. Điều thú vị nằm ở các tên gọi song song vẫn còn dùng trong tài liệu tiếng Anh: "Lewis dot structure" hay "electron dot structure" đều nhấn vào chữ "dot", tức dấu chấm, vì phiên bản ban đầu chỉ gồm những dấu chấm đặt quanh ký hiệu nguyên tố. Lý do của cái chấm ấy nằm ở một mô hình nay đã bị bỏ: Lewis hình dung nguyên tử có dạng khối lập phương với electron nằm ở các đỉnh, hai khối chung một cạnh thì thành liên kết đơn, chung một mặt thì thành liên kết đôi. Vì mô hình khối lập phương không giải thích nổi liên kết ba, phần hình học bị loại bỏ, nhưng những dấu chấm thì ở lại. Về sau người ta thêm gạch nối thay cho cặp electron dùng chung, còn cặp không tham gia liên kết vẫn giữ dạng hai chấm — nay gọi là cặp electron chưa liên kết (lone pair).
Nguồn đối chiếu
Trước khi nói góc liên kết, hãy viết ra số miền electron quanh nguyên tử được hỏi.
Giám khảo chấm theo lập luận chứ không chỉ theo con số, nên một câu trả lời chỉ ghi "" thường không đủ điểm. Câu văn mẫu nên có ba mảnh nối nhau: nguyên tử đó có ba miền electron, các miền đẩy nhau tối đa nên sắp xếp tam giác phẳng, do đó góc xấp xỉ . Nếu muốn, có thể thay bằng ngôn ngữ lai hóa, chẳng hạn nguyên tử carbon ở dạng nên góc gần — cả hai cách đều được chấp nhận.
Đọc kỹ đề hỏi nguyên tử nào, đừng mặc định là nguyên tử ở giữa hình vẽ.
Trong acetone có tới ba nguyên tử carbon và chúng không giống nhau: carbon nối với oxygen có ba miền electron và góc gần , còn hai carbon của nhóm methyl có bốn miền và góc H–C–H gần . Trả lời nhầm nguyên tử là kiểu mất điểm đáng tiếc nhất vì kiến thức thì đúng. Hãy khoanh bút chì vào nguyên tử được hỏi ngay trên hình của đề trước khi viết.
Khi so sánh hai chất, câu trả lời phải có từ "vì" và một đại lượng cụ thể.
Đề dạng so sánh tính acid–base luôn yêu cầu vừa chọn đúng vừa giải thích đúng, và phần giải thích mới là phần cho điểm. Với cặp và , hãy gọi tên độ âm điện của fluorine và nói rõ hệ quả là cặp electron chưa liên kết trên nitrogen bị kéo bớt mật độ, nên khả năng nhận proton giảm. Một câu chọn đúng nhưng giải thích mơ hồ kiểu "vì fluorine mạnh hơn hydrogen" sẽ không được tính.
Công thức Lewis của acetone gồm khung với 9 liên kết sigma, 1 liên kết pi và 2 cặp electron chưa liên kết đều nằm trên nguyên tử oxygen, tổng cộng đúng 12 cặp ứng với 24 electron hóa trị. Vì carbon carbonyl có ba vùng electron còn carbon methyl có bốn vùng, phân tử vừa có phần phẳng tam giác với góc (), vừa có phần tứ diện với góc ().
Cả và đều có đúng một cặp electron chưa liên kết trên nitrogen, nên khác biệt về tính base không đến từ số cặp mà từ môi trường quanh nitrogen. Vì fluorine âm điện mạnh hút mật độ electron ra khỏi nguyên tử trung tâm, cặp electron của khó nhường cho proton hơn; do đó là base mạnh hơn .