AP Chemistry
dissociation

Sự phân li là quá trình một hợp chất tách thành các phần tử nhỏ hơn như ion hoặc gốc tự do.
Sự phân li (dissociation) là quá trình một hợp chất tách thành các phần tử nhỏ hơn, thường là ion hoặc gốc tự do (free radical). Trong môi trường dung dịch, hiện tượng này biến các mạng tinh thể ion thành những hạt mang điện di chuyển tự do, nhờ đó dung dịch có khả năng dẫn điện. Tuy nhiên, không phải chất nào cũng tách hoàn toàn, vì chất điện li mạnh (strong electrolyte) phân li triệt để trong khi chất điện li yếu chỉ tách một phần.
Bên cạnh đó, xét về phương diện năng lượng, việc phá vỡ các liên kết nội tại luôn đòi hỏi cung cấp nhiệt, do đó quá trình này thường thu nhiệt. Đại lượng đặc trưng cho năng lượng cần thiết để bẻ gãy một mol liên kết cụ thể trong pha khí được gọi là entalpy phân li liên kết. Giá trị này càng lớn chứng tỏ liên kết càng bền vững, và phân tử càng ít khả năng tham gia biến đổi hóa học.
Hơn nữa, trong bối cảnh cân bằng hóa học, sự phân li của các axit yếu hoặc bazơ yếu thiết lập một trạng thái cân bằng động giữa phân tử nguyên vẹn và các ion tạo thành. Hằng số cân bằng của quá trình này được kí hiệu hoặc . Giá trị đó phản ánh mức độ phân li mạnh hay yếu của chất tan trong môi trường nước.
Trực giác: Giống như một tòa nhà xếp hình bị tháo rời thành từng khối gạch riêng biệt.
Phân li không có nghĩa là phân li hoàn toàn.
Với muối tan hay acid mạnh thì mũi tên một chiều là hợp lý, nhưng acid yếu như chỉ phân li một phần và phải viết mũi tên hai chiều kèm hằng số phân li acid (acid dissociation constant) . Học sinh quen tính bằng cách lấy thẳng nồng độ ban đầu sẽ ra pH sai hàng đơn vị. Hãy nhìn : có nghĩa là cân bằng, mà cân bằng thì phải lập bảng ICE.
Acid nhiều nấc phân li theo từng nấc, không phải tất cả cùng lúc.
Với , ba hằng số , , giảm dần khoảng lần mỗi nấc, nên ở pH khoảng 1 hầu như chỉ nấc thứ nhất xảy ra. Do đó có nồng độ thấp nhất trong các sản phẩm, chứ không phải bằng nhau như nhiều bạn đoán. Nguyên tắc chung: mỗi nấc sau khó hơn nấc trước vì phải tách khỏi một ion đã mang điện tích âm.
Năng lượng phân li liên kết luôn dương và chỉ tính phần phá liên kết.
Khi đề hỏi của phản ứng phân li kiểu , không có liên kết nào được tạo thành, nên đúng bằng năng lượng liên kết (bond enthalpy) của , tức kJ/mol. Nhiều bạn theo quán tính lấy hiệu "phá trừ tạo" rồi trừ nhầm một số nào đó, hoặc để dấu âm. Phá liên kết luôn thu nhiệt, vậy dấu âm chắc chắn sai.
Thêm base vào acid yếu không làm biến mất acid đó.
Khi cho mol vào L dung dịch M , phản ứng trung hòa chuyển mol acid thành base liên hợp (conjugate base), còn lại mol acid. Kết quả là dung dịch đệm (buffer) chứa cả hai dạng, chứ không phải chỉ còn muối. Học sinh bỏ qua bước tính lại số mol sẽ dùng sai tỉ số trong phương trình Henderson–Hasselbalch.
Quiz câu thật từ ngân hàng đề
Vài câu thật gắn đúng khái niệm này, chấm ngay kèm giải thích từng đáp án — hệ thống ghi nhớ bạn nắm tới đâu.
Biên soạn bởi DucklingStudy, bản quyền thuộc DucklingStudy. Xuất bản .
Viết rõ phương trình phân li có cân bằng điện tích trước khi tính.
Giám khảo cho điểm quá trình, nên chỉ cần ghi đúng và bảng ICE là đã có điểm dù kết quả số lệch. Ngược lại, chỉ ghi mỗi đáp số mà không có phương trình thì mất gần hết điểm.
Với bài đệm, hãy tính bằng SỐ MOL rồi mới đổi sang nồng độ.
Phản ứng trung hòa xảy ra theo mol, và nếu thể tích chung không đổi thì tỉ số mol bằng tỉ số nồng độ trong . Trình bày hai dòng: dòng mol sau phản ứng, dòng thay vào công thức.
So sánh độ mạnh acid thì so , đừng so nồng độ.
Câu hỏi kiểu "chất nào phân li nhiều nhất" muốn bạn nhìn lớn hay nhỏ; càng nhỏ thì acid càng mạnh. Nhớ luôn quan hệ để đổi qua lại khi đề cho base liên hợp.
Trong dung dịch X, acid acetic chỉ phân li khoảng nên . Khi thêm base liên hợp để tạo hệ đệm có tỉ lệ 1:1 thì , và sau khi thêm NaOH thì pH chỉ nhích lên . Sự phân li của một acid yếu vừa nhỏ về mức độ vừa nhạy với việc có mặt base liên hợp; chính đặc điểm đó tạo nên khả năng chống thay đổi pH của dung dịch đệm.
Phản ứng chlor hóa methane có , tức tỏa nhiệt vì năng lượng giải phóng khi tạo liên kết C–Cl và H–Cl lớn hơn năng lượng tiêu tốn để phân li liên kết C–H và Cl–Cl. Trong dãy hydrogen halide, có năng lượng phân li liên kết lớn nhất do liên kết ngắn nhất và xen phủ tốt nhất.