AP Chemistry
ground state

Trạng thái cơ bản là trạng thái có năng lượng thấp nhất và bền vững nhất của một nguyên tử hay phân tử.
Trạng thái cơ bản (ground state) là mức năng lượng thấp nhất mà các êlectron trong nguyên tử (atom) có thể chiếm giữ. Khi mọi êlectron đều phân bố ở các mức năng lượng thấp nhất cho phép, nguyên tử đạt độ bền cực đại và không tự phát phát ra bức xạ điện từ. Đây chính là cấu hình mà nguyên tử tồn tại ở điều kiện bình thường, trước khi nhận bất kì năng lượng kích thích nào từ bên ngoài.
Đối với nguyên tử hiđrô, năng lượng của êlectron ở trạng thái cơ bản ứng với số lượng tử chính và có giá trị:
Dấu âm phản ánh lực hút (attractive forces) tĩnh điện giữa êlectron và hạt nhân, nên năng lượng càng âm thì hệ càng bền. Khi nguyên tử hấp thụ một lượng tử năng lượng đúng bằng hiệu hai mức, êlectron sẽ nhảy lên mức cao hơn và nguyên tử chuyển sang trạng thái kích thích.
Ngược lại, khi êlectron rơi từ mức năng lượng cao về mức thấp hơn, nguyên tử phát ra một phôtôn có tần số xác định. Nhờ đó, sự chuyển dời giữa trạng thái kích thích và trạng thái cơ bản tạo nên các vạch quang phổ đặc trưng cho mỗi nguyên tố (element). Vì vậy, việc xác định năng lượng của trạng thái cơ bản là nền tảng để giải thích phổ phát xạ và phổ hấp xạ trong phép phân tích quang phổ.
Trực giác: Hãy tưởng tượng một viên bi nằm yên ở đáy bát — đó là vị trí thấp nhất và bền nhất; muốn viên bi lên thành bát, ta phải cung cấp năng lượng.
Dùng để tính năng lượng của electron trong nguyên tử hydro ở mức năng lượng bất kỳ; thay để được năng lượng trạng thái cơ bản.
Trong đó
Đếm đủ số electron chưa chắc đã là trạng thái cơ bản.
Nhiều học sinh thấy một cấu hình có đúng tám electron cho oxygen là chọn ngay, mà quên kiểm tra các electron ấy đã được xếp vào những orbital thấp nhất chưa. Cấu hình vẫn có tám electron, nhưng một electron đã bị đẩy lên cao hơn mức tối thiểu, nên đó là trạng thái kích thích (excited state) chứ không phải trạng thái cơ bản. Do đó khi đề ghi "in the ground state", việc đầu tiên phải làm là rà lại thứ tự lấp đầy theo nguyên lý vững bền (Aufbau principle), rồi mới đếm.
Số electron độc thân không đọc được từ số mũ của phân lớp.
Thấy mà kết luận có bốn electron độc thân (unpaired electron) là lỗi rất phổ biến, vì phân lớp chỉ có ba orbital. Theo quy tắc Hund (Hund's rule), bốn electron đó xếp thành một cặp cùng hai electron đơn lẻ, nên kết quả đúng là hai. Vì vậy muốn đếm chính xác thì phải vẽ giản đồ ô lượng tử (orbital diagram) của phân lớp cuối cùng chứ không nhẩm theo chỉ số mũ.
Ghép đôi electron trước khi mỗi orbital có một electron là vi phạm quy tắc Hund.
Học sinh hay viết nitrogen thành hai electron cặp đôi trong một orbital cộng một electron lẻ, tưởng rằng ghép đôi thì "ổn định hơn". Thực tế hai electron cùng orbital đẩy nhau mạnh hơn, nên năng lượng thấp nhất đạt được khi ba electron nằm riêng ba orbital với spin song song. Cấu hình ghép đôi sớm ấy vẫn đúng tổng số electron nhưng không còn là trạng thái năng lượng thấp nhất.
Phân lớp có năng lượng cao nhất không phải lúc nào cũng là phân lớp viết sau cùng.
Khi đề hỏi "the highest occupied energy sublevel", nhiều bạn chỉ nhìn ký hiệu đứng cuối dãy cấu hình mà quên rằng được lấp trước nhưng lại nằm thấp hơn về mức năng lượng sau khi đã có electron. Ngoài ra chromium và copper lệch khỏi quy tắc thông thường, cho và vì phân lớp nửa đầy hoặc đầy hoàn toàn bền hơn. Hai ngoại lệ này xuất hiện đủ thường xuyên trong đề trắc nghiệm để đáng học thuộc.
Quiz câu thật từ ngân hàng đề
Vài câu thật gắn đúng khái niệm này, chấm ngay kèm giải thích từng đáp án — hệ thống ghi nhớ bạn nắm tới đâu.
Biên soạn bởi DucklingStudy, bản quyền thuộc DucklingStudy. Xuất bản .
Gặp chữ "assume the atoms are in the ground state" thì đó là lệnh áp dụng Aufbau và Hund.
Câu này không phải lời dẫn cho có: nó loại bỏ mọi cấu hình kích thích khỏi vùng đáp án và buộc bạn xếp electron theo đúng thứ tự năng lượng tăng dần. Nhờ đó bài toán trở nên chỉ có một đáp án duy nhất, và bạn có thể gạch ngay những phương án nào có electron nhảy cóc lên phân lớp cao trong khi phân lớp thấp còn trống.
Khi đếm electron độc thân, vẽ ba ô cho và năm ô cho bên lề đề.
Thao tác này mất chưa tới mười giây nhưng chặn đứng lỗi nhẩm sai, đặc biệt với các cấu hình , hay nơi số electron độc thân giảm xuống chứ không tăng theo số mũ. Khi đã điền xong, đếm số ô chỉ có một mũi tên là ra đáp án.
Trong phần tự luận, phải viết rõ cấu hình đầy đủ chứ đừng chỉ ghi số electron độc thân.
Giám khảo chấm theo lập luận, nên một cấu hình viết đúng kèm câu giải thích ngắn về việc mỗi orbital nhận một electron trước khi ghép đôi sẽ ăn trọn điểm, ngay cả khi con số cuối cùng bị nhầm. Ngược lại, một con số trần trụi không kèm cấu hình thường chỉ được nửa điểm hoặc không được điểm nào.
Ở trạng thái cơ bản, nguyên tử silicon với cấu hình là nguyên tử duy nhất có đúng hai electron độc thân, nên đáp án của (a) là Si. Còn nguyên tử nhôm với cấu hình là nguyên tử duy nhất chỉ mang một electron ở phân lớp cao nhất bị chiếm, nên đáp án của (b) là Al.
Phương án (A), tức , là cấu hình của nguyên tử oxygen ở trạng thái cơ bản. Phương án (B) vẫn có đủ 8 electron nhưng một electron đã bị đẩy lên khi chưa đầy nên đó là trạng thái kích thích; phương án (C) ứng với 10 electron nên mô tả ion chứ không phải nguyên tử trung hòa; phương án (D) vi phạm sức chứa tối đa của phân lớp nên hoàn toàn không tồn tại.