AP Chemistry
equivalence point
Còn gọi: điểm cân bằng đương lượng · điểm cân bằng chuẩn độ · equimolar · lượng mol bằng nhau · trộn theo tỉ lệ mol bằng nhau

Điểm tương đương là điểm trong phép chuẩn độ mà tại đó chất chuẩn thêm vào phản ứng vừa đủ với chất cần xác định, không chất nào dư.
Điểm tương đương là trạng thái trong phép chuẩn độ mà lượng chất chuẩn thêm vào vừa đủ để phản ứng hoàn toàn với chất cần xác định. Tại thời điểm này, số mol hai chất phản ứng theo đúng tỉ lệ hệ số của phương trình hóa học đã cân bằng, nghĩa là không chất nào còn dư sau phản ứng. Khái niệm này xuất phát từ điều kiện lượng mol bằng nhau (equimolar) — cách gọi khác thường gặp trong đề thi.
Nhờ đó, ta có thể liên hệ nồng độ và thể tích qua hệ thức: trong đó là nồng độ mol, là thể tích dung dịch, còn và là hệ số cân bằng của chất A và chất B trong phương trình. Hệ quả là nếu biết ba trong bốn đại lượng, đại lượng còn lại được suy ra trực tiếp — đây chính là cơ sở để xác định nồng độ chưa biết của một dung dịch.
Tuy nhiên, điểm tương đương khác với điểm cuối (end point) — thời điểm mà chỉ thị (indicator) đổi màu. Vì vậy, việc chọn chỉ thị sao cho điểm cuối trùng hoặc gần nhất với điểm tương đương là yêu cầu then chốt của mọi phép chuẩn độ. Ngược lại, nếu chọn chỉ thị có khoảng đổi màu xa điểm tương đương, sai số của phép đo sẽ lớn và kết quả nồng độ tính ra sẽ thiếu chính xác.
Ở điểm tương đương của phản ứng trung hòa axit mạnh và bazơ mạnh, pH bằng 7. Ngược lại, khi chuẩn độ axit yếu bằng bazơ mạnh, pH tại điểm tương đương lớn hơn 7 do muối tạo ra bị thủy phân tạo môi trường bazơ. Do đó, đồ thị chuẩn độ có dạng khác nhau tùy vào bản chất của axit và bazơ tham gia.
Trực giác: Hãy tưởng tượng bạn xếp giày vào hộp: điểm tương đương là lúc chiếc giày cuối cùng vừa khít vào ngăn cuối cùng — không thừa giày, không thừa ngăn.
Dùng khi cần tính nồng độ hoặc thể tích chưa biết ở điểm tương đương trong mọi phép chuẩn độ, bất kể tỉ lệ mol giữa hai chất là bao nhiêu.
Trong đó
Điểm tương đương không phải luôn có pH bằng 7, chỉ bằng 7 khi axit mạnh gặp bazơ mạnh.
Khi chuẩn độ axit yếu bằng bazơ mạnh, chất chiếm ưu thế tại điểm tương đương là bazơ liên hợp (conjugate base) , ion này thủy phân sinh nên pH > 7. Ngược lại, chuẩn độ bazơ yếu như bằng axit mạnh để lại axit liên hợp (conjugate acid) , làm pH < 7. Do đó câu hỏi "pH tại điểm tương đương lớn hơn hay nhỏ hơn 7" thực chất hỏi bạn nhận diện chất nào còn lại trong bình sau phản ứng.
Đừng đọc tại điểm tương đương.
Quan hệ chỉ đúng ở điểm nửa tương đương (half-equivalence point), nơi nên số hạng logarit trong triệt tiêu. Tại điểm tương đương thì đã bị trung hòa gần hết, tỉ số trên rất lớn và pH vọt lên trên vài đơn vị. Vì vậy với điểm tương đương ở 18.0 mL, bạn phải đọc pH tại 9.0 mL chứ không phải 18.0 mL.
Với axit đa nấc, điểm nửa tương đương thứ hai là điểm GIỮA hai điểm tương đương.
Nhiều học sinh lấy một nửa thể tích của điểm tương đương thứ hai, tức 20.0 mL trong trường hợp hai điểm tương đương ở 20.0 mL và 40.0 mL, nhưng đó lại chính là điểm tương đương thứ nhất. Muốn có bạn cần vị trí mà , và vị trí đó nằm ở 30.0 mL. Quy tắc an toàn là lấy trung điểm của đoạn thể tích ứng với nấc đang xét: nấc một từ 0 đến 20.0 mL cho 10.0 mL, nấc hai từ 20.0 đến 40.0 mL cho 30.0 mL.
Điểm tương đương và điểm cuối chuẩn độ (endpoint) là hai khái niệm khác nhau.
Điểm tương đương là điều kiện hóa học: số mol chất chuẩn thêm vào đúng bằng số mol chất cần định phân theo hệ số hợp thức, không chất nào dư. Điểm cuối chỉ là lúc chất chỉ thị (indicator) đổi màu, tức tín hiệu thực nghiệm mà ta quan sát được. Hai điểm này chỉ trùng nhau khi chọn được chất chỉ thị đổi màu trong khoảng pH bao quanh bước nhảy; chọn sai chất chỉ thị sẽ tạo sai số chuẩn độ dù phép tính hợp thức hoàn toàn đúng.
Quiz câu thật từ ngân hàng đề
Vài câu thật gắn đúng khái niệm này, chấm ngay kèm giải thích từng đáp án — hệ thống ghi nhớ bạn nắm tới đâu.
Biên soạn bởi DucklingStudy, bản quyền thuộc DucklingStudy. Xuất bản .
Trước khi tính, hãy viết ra chất nào chiếm ưu thế tại điểm tương đương.
Chỉ cần một dòng như "major species: " là bạn tự trả lời được pH lớn hơn hay nhỏ hơn 7, và bài tự luận cũng cho điểm cho lập luận đó. Sau khi phản ứng xảy ra hoàn toàn, nồng độ lớn hơn hẳn nồng độ còn lại, nên câu giải thích cần nói rõ nhận proton từ nước sinh . Bỏ qua bước này rồi lao vào máy tính là cách mất điểm nhanh nhất ở phần chuẩn độ.
Đánh dấu bốn vùng trên mọi đường cong chuẩn độ ngay khi nhìn thấy đồ thị.
Vùng đầu chỉ có axit yếu, vùng đệm chứa cả và với điểm nửa tương đương cho , vùng tương đương chỉ có , và vùng sau tương đương do lượng dư quyết định. Đề rất hay dụ bạn đọc ở pH ban đầu hoặc ở đoạn sau điểm tương đương, mà cả hai chỗ đó đều không có quan hệ trực tiếp với . Nhờ bản đồ bốn vùng này, bạn chọn đúng công thức cho từng thể tích thay vì áp dụng nhầm phương trình Henderson–Hasselbalch ở nơi không có dung dịch đệm.
Khi tính toán, hãy quy về số mol rồi mới chia cho tổng thể tích.
Điểm tương đương được định nghĩa bằng số mol chứ không bằng nồng độ, nên là điểm khởi đầu cho mọi phép tính hợp thức. Sau phản ứng, thể tích dung dịch là tổng thể tích axit và bazơ đã trộn, và quên cộng thể tích này là lỗi khiến kết quả pH lệch hẳn một khoảng. Trong bài tự luận, viết rõ bảng số mol trước và sau phản ứng sẽ giúp giám khảo theo được lập luận ngay cả khi con số cuối bị sai.
Đọc tại 9.0 mL NaOH — điểm nửa tương đương, chứ không phải tại 18.0 mL. Tại điểm tương đương 18.0 mL, dung dịch chỉ chứa 0.0474 M nên có pH , đặc trưng cho phép chuẩn độ axit yếu bằng bazơ mạnh. Do đó phenolphtalein là chỉ thị phù hợp, còn metyl đỏ sẽ đổi màu trước khi tới điểm tương đương.
Đọc tại 10.0 mL và tại 30.0 mL — tức trung điểm của mỗi chặng, chứ không phải tại chính các điểm tương đương. Từ mốc 40.0 mL suy ra dung dịch ban đầu có nồng độ 0.160 M, và vì mỗi chặng tiêu thụ cùng một số mol nên điểm tương đương thứ hai luôn rơi vào đúng gấp đôi thể tích của điểm tương đương thứ nhất.