AP Chemistry
Avogadro’s law
Còn gọi: hypothesis

Định luật Avogadro là phát biểu rằng ở nhiệt độ và áp suất không đổi, thể tích của một chất khí tỉ lệ thuận với số mol khí có mặt.
Trong bốn định luật khí cơ bản, định luật Avogadro (Avogadro's law) là định luật duy nhất nói về lượng chất thay vì về nhiệt độ hay áp suất. Khi ta bơm thêm khí vào một xi lanh có pit-tông di chuyển tự do mà vẫn giữ nguyên nhiệt độ và áp suất bên ngoài, pit-tông sẽ bị đẩy ra xa để chứa số phân tử tăng thêm. Do đó, thể tích lớn lên đúng theo tỉ lệ với số mol, và quan hệ này được viết gọn thành
trong đó là thể tích, là số mol khí và là hằng số chỉ phụ thuộc vào nhiệt độ và áp suất đang giữ cố định. Vì thế, khi so sánh hai trạng thái của cùng một hệ ở cùng và , ta dùng dạng , nghĩa là gấp đôi số mol thì thể tích cũng gấp đôi.
Từ đây, một hệ quả quan trọng là những thể tích bằng nhau của các chất khí (gas) khác nhau, đo trong cùng điều kiện, chứa cùng số phân tử. Bản chất hóa học của phân tử không hề xuất hiện trong biểu thức, bởi vì theo thuyết động học phân tử, thể tích riêng của các phân tử và lực hút (attractive forces) giữa chúng đều bị bỏ qua, nên cái quyết định thể tích chỉ là số hạt và chuyển động nhiệt của chúng. Vì vậy, ở điều kiện tiêu chuẩn, mọi khí lý tưởng đều có cùng thể tích mol (molar volume) L/mol.
Do đó, ý nghĩa của định luật này với đề thi nằm ở chỗ nó nối tỉ lệ thể tích với tỉ lệ số mol. Nhờ đó, trong một phản ứng giữa các chất khí đo ở cùng và , các hệ số tỉ lượng (stoichiometric coefficients) cũng chính là tỉ lệ thể tích phản ứng. Ngoài ra, chính định luật Avogadro còn cung cấp mảnh ghép để ba định luật khí còn lại hợp nhất thành phương trình .
Trực giác: Giống như thổi bóng bay: cứ thêm một hơi khí vào là quả bóng phồng to thêm đúng chừng đó, bất kể bạn thổi khí gì.
Dùng để biểu diễn mối quan hệ tỉ lệ thuận giữa thể tích khí và số mol khí ở điều kiện nhiệt độ và áp suất không đổi; khi số mol tăng bao nhiêu lần thì thể tích tăng bấy nhiêu lần.
Trong đó
Dùng khi so sánh hai trạng thái của chất khí ở cùng nhiệt độ và áp suất; biết ba trong bốn đại lượng , , , thì tìm được đại lượng còn lại.
1811Amedeo AvogadroJoseph-Louis Gay-LussacJohn DaltonStanislao CannizzaroJohann Josef Loschmidt
Thể tích khí tỉ lệ với số mol, không phải với khối lượng.
Rất nhiều học sinh thấy hai bình khí cùng thể tích ở cùng nhiệt độ và áp suất liền kết luận hai bình nặng bằng nhau, nhưng điều duy nhất bằng nhau ở đây là số phân tử. Một lít khí và một lít khí chứa cùng số mol, song khối lượng của chúng chênh nhau tới tám lần vì khối lượng mol khác nhau. Do đó khi đề cho thể tích và hỏi khối lượng, bạn buộc phải đi vòng qua số mol rồi mới nhân với khối lượng mol; nhảy thẳng từ thể tích sang khối lượng là mất điểm ngay.
Quên rằng nhiệt độ và áp suất phải giữ nguyên thì hệ thức vô nghĩa.
Đây là dạng bẫy quen thuộc: đề cho khí giãn nở đồng thời bị nung nóng, học sinh vẫn áp công thức tỉ lệ thuận giữa thể tích và số mol rồi ra kết quả sai. Bản thân định luật chỉ là một lát cắt của phương trình khí lý tưởng (ideal gas law) khi ta cố định và . Vì vậy, hễ thấy đề thay đổi từ hai đại lượng trở lên, hãy bỏ hẳn công thức tỉ lệ và quay về cho cả hai trạng thái.
Giá trị L/mol chỉ đúng ở điều kiện tiêu chuẩn, không phải mọi lúc.
Thể tích mol (molar volume) này được tính từ và atm; ở con số đã là khoảng L/mol. Học sinh học thuộc lòng rồi đem chia thể tích khí ở nhiệt độ phòng cho nó, và sai số kéo theo đủ để lệch khỏi đáp án trắc nghiệm. Cách an toàn nhất là luôn tính số mol bằng với nhiệt độ đổi ra kelvin, vì phép tính đó đúng ở mọi điều kiện.
Tỉ lệ hệ số trong phương trình phản ứng khí là tỉ lệ thể tích, không phải tỉ lệ khối lượng.
Khi các khí cùng nhiệt độ và áp suất, số mol tỉ lệ thuận với thể tích, nên cho phép nói ngay rằng 2 L hiđro phản ứng vừa đủ với 1 L oxi. Tuy nhiên nhiều bài làm lại chuyển toàn bộ sang gam rồi so sánh, vừa dài vừa dễ nhầm ở bước tìm chất giới hạn (limiting reactant). Nhờ định luật này, các câu về hỗn hợp khí có thể giải trực tiếp trên thể tích, miễn là bạn ghi rõ điều kiện nhiệt độ và áp suất giống nhau.
Quiz câu thật từ ngân hàng đề
Vài câu thật gắn đúng khái niệm này, chấm ngay kèm giải thích từng đáp án — hệ thống ghi nhớ bạn nắm tới đâu.
Biên soạn bởi DucklingStudy, bản quyền thuộc DucklingStudy. Xuất bản .
Trong đó
Đầu thế kỷ 19, Joseph-Louis Gay-Lussac nhận thấy các chất khí kết hợp với nhau theo những tỉ lệ thể tích rất gọn, còn John Dalton lại khăng khăng rằng nguyên tử là hạt không thể chia. Hai quan điểm đó đá nhau, và không ai giải thích nổi vì sao thể tích lại cư xử ngoan ngoãn đến thế. Năm 1811, Avogadro gỡ được nút thắt bằng cách phân biệt nguyên tử với phân tử, rồi kết luận rằng ở cùng nhiệt độ và áp suất, mỗi thể tích khí bất kỳ đều chứa cùng một số phân tử. Ý tưởng này bị bỏ quên gần trọn đời ông. Mãi đến năm 1860, bốn năm sau khi Avogadro mất, Stanislao Cannizzaro mới trình bày lại và bảo vệ nó trước giới khoa học, nhờ đó giả thuyết được công nhận và trở thành định luật.
Vì sao mang đúng cái tên này? Cái tên có một điểm dễ gây hiểu lầm: Avogadro chưa từng tính ra con số mà ngày nay gắn liền với tên ông. Năm 1811 ông chỉ nêu một giả thuyết (Avogadro's hypothesis) về quan hệ giữa thể tích và số phân tử, hoàn toàn không có phép đo nào cho số hạt. Người đầu tiên chạm tới giá trị đó là Johann Josef Loschmidt năm 1865, khi ông tìm cách ước lượng kích thước phân tử và đưa ra đại lượng sau này gọi là hằng số Loschmidt (Loschmidt constant); ở các nước nói tiếng Đức, con số hạt trong một mol thậm chí từng được gọi theo tên Loschmidt. Về sau, chính Jean Baptiste Perrin mới đặt tên cho số phân tử trong một phân tử gam là số Avogadro, cốt để vinh danh phát hiện gốc năm 1811. Vì vậy tên gọi ở đây là một lời ghi công cho ý tưởng nền, không phải cho phép tính — và hằng số Avogadro (Avogadro constant) hôm nay là một trong bảy hằng số định nghĩa của hệ SI.
Tự luận phải ghi 'cùng nhiệt độ và áp suất' mới được trọn điểm.
Giám khảo tìm bằng chứng rằng thí sinh hiểu điều kiện áp dụng chứ không chỉ nhớ công thức. Một câu như "vì hai khí ở cùng và nên thể tích bằng nhau nghĩa là số mol bằng nhau" thường đáng nguyên một điểm lập luận. Ngược lại, chỉ viết dãy số mà không nêu điều kiện thì phần giải thích bị coi là thiếu.
Khi đề yêu cầu giải thích ở mức hạt, hãy dùng thuyết động học phân tử (kinetic molecular theory).
Ý cần nói là thể tích riêng của bản thân các phân tử khí không đáng kể so với thể tích bình chứa, nên kích thước hay bản chất phân tử không ảnh hưởng tới thể tích chiếm chỗ. Do đó cùng số phân tử sẽ cho cùng thể tích, bất kể đó là nhỏ hay to. Đây chính là câu trả lời được mong đợi cho những câu hỏi kiểu "vì sao hai khí khác nhau lại chiếm thể tích như nhau".
Đừng học thuộc bốn định luật khí riêng lẻ; hãy suy chúng ra từ .
Trong phòng thi, bạn chỉ cần viết phương trình khí lý tưởng cho hai trạng thái, cho các đại lượng không đổi triệt tiêu, và hệ thức cần dùng sẽ tự hiện ra. Cách này vừa tránh nhầm lẫn giữa tỉ lệ thuận và tỉ lệ nghịch, vừa xử lý được các bài đổi nhiều biến cùng lúc. Nhớ luôn đổi nhiệt độ sang kelvin và kiểm tra đơn vị của khớp với đơn vị áp suất đề cho.
H₂ là chất giới hạn vì 12,0 L H₂ chỉ tiêu thụ 4,00 L trong số 6,00 L N₂ có sẵn. Phản ứng tạo 8,00 L NH₃ và để lại 2,00 L N₂ dư, nên tổng thể tích khí giảm từ 18,0 L xuống 10,0 L. Ở áp suất và nhiệt độ không đổi, sự co thể tích này phản ánh trung thực việc số mol khí giảm từ 4 phần xuống 2 phần theo hệ số của phương trình.
Sau khi bơm thêm 0,150 mol Ne, xylanh nở ra đến 9,60 L vì thể tích tỉ lệ thuận với tổng số mol khí ở áp suất và nhiệt độ không đổi. Tuy thể tích lớn hơn, khoảng cách trung bình giữa các phân tử vẫn như cũ do số mol và thể tích cùng tăng theo một tỉ lệ, giữ cho mật độ phân tử và áp suất không đổi.