AP Statistics
subjects

Đối tượng nghiên cứu là các đơn vị thực nghiệm — người, động vật hoặc vật thể — trực tiếp nhận tác động xử lý và cung cấp dữ liệu đo lường.
Trong thiết kế thực nghiệm, đối tượng nghiên cứu (subjects) là những đơn vị thực nghiệm chịu tác động của biến xử lý mà nhà nghiên cứu muốn kiểm tra. Khi đơn vị thực nghiệm là con người, thuật ngữ này được dùng để phân biệt rõ với đơn vị quan sát trong nghiên cứu quan sát, nơi nhà nghiên cứu không can thiệp vào điều kiện sống hay hành vi của người được theo dõi. Do đó, việc xác định đúng đối tượng nghiên cứu giúp người đọc hiểu phạm vi suy luận của toàn bộ thực nghiệm.
Mỗi đối tượng nghiên cứu được phân ngẫu nhiên vào một trong các nhóm xử lý — đây là bước cốt lõi để giảm ảnh hưởng của các biến nhiễu (confounding variables) mà nhà nghiên cứu không kiểm soát được. Nếu phân nhóm không ngẫu nhiên, những khác biệt vốn có giữa các đối tượng có thể khiến ta nhầm lẫn tác động thật sự của nhân tố xử lý. Vì vậy, phân ngẫu nhiên chính là lá chắn bảo vệ tính hiệu lực nhân quả của kết luận.
Số lượng đối tượng nghiên cứu ảnh hưởng trực tiếp đến độ mạnh của kiểm định (power): mẫu càng lớn thì khả năng phát hiện sự khác biệt thật sự giữa các nhóm xử lý càng cao. Tuy nhiên, con số này không thể tăng tùy ý vì bị giới hạn bởi chi phí, đạo đức nghiên cứu và tính khả thi. Nhờ đó, việc lên kế hoạch về quy mô mẫu trở thành một bước không thể bỏ qua trước khi tiến hành bất kỳ thực nghiệm nào.
Trực giác: Giống như người thử thuốc trong thử nghiệm lâm sàng — họ không chỉ được quan sát từ xa mà còn trực tiếp uống thuốc hoặc nhận giả dược để xem điều gì xảy ra.
Đối tượng nghiên cứu là người tham gia thí nghiệm, không phải người trả lời khảo sát.
Khi nghiên cứu áp đặt một cách xử lý lên người tham gia — cho uống thuốc thật hay giả dược, châm cứu thật hay châm cứu giả — thì những người đó được gọi là đối tượng nghiên cứu, và trong tài liệu tiếng Anh đây chính là các đơn vị thí nghiệm (experimental units) ở dạng con người. Ngược lại, trong một cuộc điều tra chọn mẫu, người ta chỉ quan sát và hỏi chứ không tác động gì, nên nhóm người ấy là mẫu chứ không phải đối tượng nghiên cứu theo nghĩa thí nghiệm. Phân biệt này quyết định toàn bộ phần kết luận: chỉ thí nghiệm mới cho phép nói về quan hệ nhân quả.
Đối tượng nghiên cứu là người tình nguyện thì không được kết luận cho cả tổng thể.
Rất nhiều bài viết đúng phần tính toán nhưng cuối bài lại phát biểu "vậy châm cứu có hiệu quả với tất cả bệnh nhân mắc bệnh này", và mất điểm ở đúng câu đó. Người tình nguyện tự nguyện tham gia chứ không được rút ra ngẫu nhiên từ tổng thể, nên việc tổng quát hóa (generalization) ra ngoài nhóm này là không có cơ sở. Kết luận đúng phải giới hạn trong phạm vi nhóm đối tượng đã tham gia: cách xử lý gây ra khác biệt về kết quả đối với những người tình nguyện này.
Không cần kiểm tra điều kiện 10% khi đối tượng nghiên cứu là người tình nguyện.
Điều kiện sinh ra để bảo đảm tính độc lập khi ta lấy mẫu không hoàn lại từ một tổng thể hữu hạn; ở đây không hề có phép lấy mẫu nào từ tổng thể cả, nên điều kiện đó không có đối tượng để áp dụng. Cái bảo đảm tính độc lập trong thí nghiệm là việc phân nhóm ngẫu nhiên (random assignment) các cách xử lý cho từng đối tượng. Vì vậy khi trình bày điều kiện, hãy viết rõ "các cách xử lý được gán ngẫu nhiên" thay vì chép máy móc điều kiện 10% như trong bài khảo sát.
Số đối tượng ít không tự động được dùng định lý giới hạn trung tâm.
Với 12 người mỗi nhóm như trong đề về thực phẩm chức năng giảm cân, cỡ mẫu chưa đủ lớn để viện dẫn định lý giới hạn trung tâm (central limit theorem), nên điều kiện về dạng phân bố phải được kiểm tra bằng dữ liệu thật. Cách làm chuẩn là vẽ đồ thị cho từng nhóm và nhận xét rằng không thấy lệch mạnh hay giá trị ngoại lai (outlier), rồi mới dùng khoảng tin cậy hai mẫu. Bỏ qua bước này là mất điểm điều kiện dù công thức và số liệu đều đúng.
Quiz câu thật từ ngân hàng đề
Vài câu thật gắn đúng khái niệm này, chấm ngay kèm giải thích từng đáp án — hệ thống ghi nhớ bạn nắm tới đâu.
Biên soạn bởi DucklingStudy, bản quyền thuộc DucklingStudy. Xuất bản .
Tự tay chia 18 tình nguyện viên vào hai nhóm — rồi bấm bốc thăm và so hai bảng đặc điểm nền
Kéo tham số, thấy khái niệm chuyển động — mở khoá bằng tài khoản 0đ.
Viết đủ ba chữ trong kết luận thí nghiệm: ngẫu nhiên hóa, nhân quả, phạm vi.
Câu trả lời trọn điểm thường có dạng "vì các cách xử lý được gán ngẫu nhiên cho các đối tượng nên có bằng chứng về quan hệ nhân quả, nhưng vì đối tượng là người tình nguyện nên kết luận chỉ áp dụng cho nhóm này". Giám khảo tìm đúng hai vế đó; thiếu vế nào mất điểm vế ấy.
Khi kiểm tra điều kiện, hỏi trước: dữ liệu đến từ chọn mẫu hay từ phân nhóm?
Nếu là thí nghiệm trên người tình nguyện thì nêu phân nhóm ngẫu nhiên cho điều kiện độc lập và nói rõ không cần điều kiện 10%; nếu là khảo sát thì mới cần . Trả lời sai loại điều kiện cho thấy chưa nhận ra bản chất nghiên cứu và thường bị trừ hết phần đó.
Đọc kỹ đơn vị trên trục khi đề hỏi về số đối tượng trong biểu đồ cột.
Câu hỏi kiểu "nhóm này nhiều hơn nhóm kia 100 phần trăm" đòi so sánh bội số chứ không phải hiệu số: từ nhiều nhất 8 lên ít nhất 16 mới là tăng . Hãy đọc giá trị theo vạch chia thật, ước lượng theo hướng thận trọng, rồi mới đối chiếu từng phương án.
Đối tượng nghiên cứu là 90 người tình nguyện mắc bệnh đường ruột mạn tính, hai cách xử lý là châm cứu thật và châm cứu giả. Ta đánh số họ từ 01 đến 90, dùng số ngẫu nhiên chọn ra 45 số khác nhau để nhận châm cứu thật, 45 người còn lại nhận châm cứu giả. Nhờ gán ngẫu nhiên, hai nhóm cân bằng về các đặc điểm nền; nhờ châm cứu giả và việc giấu thông tin với người đánh giá, khác biệt về triệu chứng giữa hai nhóm có thể quy cho châm cứu chứ không phải cho hiệu ứng tâm lý hay thiên lệch của người chấm điểm.
Đối tượng nghiên cứu là 24 người tình nguyện trưởng thành; việc họ không biết mình uống loại viên nào giúp loại bỏ ảnh hưởng tâm lý khỏi so sánh giữa hai nhóm. Khoảng tin cậy 95% cho chênh lệch trung bình số cân giảm là khoảng kg, hoàn toàn nằm bên phải số 0, nên có bằng chứng thuyết phục rằng viên bổ sung giúp giảm cân nhiều hơn viên giả. Vì xử lý được gán ngẫu nhiên, ta kết luận được quan hệ nhân quả cho nhóm người này; nhưng vì họ là người tình nguyện chứ không phải mẫu ngẫu nhiên, ta không suy rộng kết quả cho toàn bộ người trưởng thành.