AP Statistics
coefficient of determination
Còn gọi: r bình phương · r squared · r²

Hệ số xác định là tỉ lệ giữa biến thiên được giải thích và tổng biến thiên của biến phản hồi, đo mức độ phù hợp của mô hình hồi quy tuyến tính với dữ liệu.
Khi xây dựng đường hồi quy, ta luôn muốn biết đường đó giải thích được bao nhiêu phần sự dao động của biến phản hồi (response variable). Tổng biến thiên của được chia thành hai phần: phần do đường hồi quy giải thích và phần còn lại nằm ở phần dư (residuals). Hệ số xác định chính là thước đo tỉ lệ giữa hai phần đó.
Công thức tổng quát là trong đó là tổng bình phương hồi quy, là tổng bình phương phần dư, và là tổng bình phương toàn phần. Vì vậy, luôn nằm trong khoảng từ 0 đến 1. Khi , ta đọc là "85% biến thiên của được giải thích bởi mối quan hệ tuyến tính với ", phần 15% còn lại do các yếu tố khác hoặc sai số ngẫu nhiên.
Đối với hồi quy tuyến tính đơn, hệ số xác định bằng bình phương của hệ số tương quan (correlation coefficient) , nên ta thường viết . Ngược lại, trong hồi quy bội, người ta dùng ký hiệu . Do đó, khi đề thi cho , ta tính ngay và kết luận 81% biến thiên được giải thích. Tuy nhiên, cao không đồng nghĩa với quan hệ nhân quả; nó chỉ phản ánh mức độ khớp của mô hình tuyến tính với dữ liệu quan sát.
Trực giác: Giống như giải thích sự chênh lệch điểm số giữa các học sinh trong lớp: nếu R² = 0,85 thì 85% sự khác nhau đó đến từ thời gian ôn tập, 15% còn lại do các yếu tố khác.
1921Sewall Wright
Đầu thế kỷ 20, giới nghiên cứu di truyền và sinh trắc học đã có sẵn đường hồi quy tuyến tính (linear regression) để mô tả quan hệ giữa hai đại lượng, nhưng vẫn thiếu một con số gọn gàng nói lên đường ấy tốt đến đâu. Wright cần đo xem các biến giải thích chi phối được bao nhiêu phần dao động của đặc điểm quan sát được, nên ông diễn đạt độ phù hợp bằng tỉ lệ phương sai được mô hình giải thích. Nhờ cách quy về một tỉ lệ nằm giữa 0 và 1, kết quả trở nên so sánh được giữa các bộ dữ liệu có đơn vị hoàn toàn khác nhau. Từ đó đại lượng này lan sang mọi ngành dùng hồi quy và tồn tại đến nay.
Hệ số xác định không phải tỉ lệ điểm nằm trên đường hồi quy.
Nhiều bài viết "34,9% số điểm dữ liệu nằm sát đường thẳng" hoặc "34,9% dự đoán là đúng", và cả hai cách hiểu này đều bị chấm sai. Đại lượng nói về biến thiên: trong tổng biến thiên của biến phản hồi (response variable), có bao nhiêu phần được giải thích khi ta dùng đường hồi quy theo biến giải thích (explanatory variable) thay vì chỉ dùng giá trị trung bình. Do đó nó là tỉ lệ của một lượng biến thiên, không phải tỉ lệ đếm số điểm.
Lấy căn bậc hai của phải gắn dấu theo hệ số góc.
Vì , một mình con số không cho biết mối liên hệ là đồng biến hay nghịch biến. Khi bài cho biết thời gian chạy nước rút càng lớn thì cự li nhảy xa càng ngắn, hệ số góc (slope) âm nên chứ không phải . Vì vậy trước khi khoanh đáp án, hãy nhìn lại chiều của đám mây điểm hoặc dấu của hệ số góc trong bảng kết quả.
Giá trị lớn không chứng minh quan hệ nhân quả.
Dữ liệu quan sát về thu nhập và chi tiêu du lịch có thể cho rất cao, nhưng điều đó chỉ nói hai biến biến thiên cùng nhịp, không nói biến này gây ra biến kia. Muốn kết luận nhân quả thì phải có thí nghiệm với gán ngẫu nhiên; ngoài ra luôn có khả năng tồn tại biến gây nhiễu (confounding variable) đứng phía sau cả hai. Ngược lại, một câu diễn giải cẩn thận chỉ nên dừng ở chữ "được giải thích bởi quan hệ tuyến tính".
cao vẫn không đủ để kết luận mô hình tuyến tính là phù hợp.
Một tập dữ liệu cong đều vẫn có thể cho hệ số xác định khá lớn, trong khi đường thẳng rõ ràng không mô tả đúng dạng liên hệ. Bằng chứng về sự phù hợp nằm ở biểu đồ phần dư (residual plot): nếu các phần dư phân tán ngẫu nhiên quanh đường thì mô hình tuyến tính hợp lí, còn nếu chúng tạo thành hình chữ U thì phải đổi mô hình. Nhờ đó, khi đề hỏi "is a linear model appropriate", câu trả lời phải dựa vào phần dư chứ không phải vào .
Quiz câu thật từ ngân hàng đề
Vài câu thật gắn đúng khái niệm này, chấm ngay kèm giải thích từng đáp án — hệ thống ghi nhớ bạn nắm tới đâu.
Biên soạn bởi DucklingStudy, bản quyền thuộc DucklingStudy. Xuất bản .
Vì sao mang đúng cái tên này? Chữ "xác định" (determination) đến từ chính câu hỏi mà cách trình bày ban đầu muốn trả lời: biến phụ thuộc được các biến độc lập "xác định" đến mức nào, tính theo tỉ lệ phương sai. Nói cách khác, tên gọi không mô tả công thức mà mô tả ý nghĩa: phần biến thiên nào của kết quả đã bị các biến giải thích quy định, phần nào còn lại là dư. Vì vậy công thức quen thuộc đọc rất tự nhiên — lấy tổng biến thiên trừ đi phần mô hình không giải thích nổi , rồi chia lại cho tổng biến thiên để ra một tỉ lệ. Còn chữ "hệ số" và ký hiệu bình phương thì gắn với quan hệ đại số của nó: trong hồi quy một biến giải thích, đại lượng này đúng bằng bình phương hệ số tương quan (correlation coefficient) , nên người ta viết hoặc và đọc là "R squared". Cũng có tài liệu gán việc đặt ra thuật ngữ cho Karl Pearson vào đầu thế kỷ 20, tuy nhiên mốc công bố được ghi rõ ràng nhất vẫn là năm 1921. Dù nguồn gốc tên gọi còn được kể theo vài cách, hàm ý thì thống nhất: đây là hệ số đo độ phù hợp (goodness of fit) qua tỉ lệ biến thiên được giải thích.
Nguồn đối chiếu
Kéo điểm lên xuống — nhìn phần biến thiên mà đường thẳng thu hồi được phình ra hay xẹp đi
Kéo tham số, thấy khái niệm chuyển động — mở khoá bằng tài khoản 0đ.
Câu diễn giải phải có đủ bốn thành phần, thiếu một là mất điểm.
Bốn thành phần đó là: con số phần trăm, cụm từ "biến thiên", tên cụ thể của biến phản hồi, và cụm "được giải thích bởi quan hệ tuyến tính với" kèm tên biến giải thích. Chẳng hạn với , hãy viết: khoảng biến thiên của cự li nhảy xa được giải thích bởi quan hệ tuyến tính với thời gian chạy nước rút. Viết chung chung kiểu "34,9% biến thiên được giải thích bởi mô hình" thường chỉ được điểm một phần vì không nêu tên biến trong ngữ cảnh bài toán.
Đọc bảng kết quả máy tính, hãy lấy đúng dòng R-sq và đừng nhầm với R-sq(adj).
Phần mềm in dưới dạng phần trăm, nên tương ứng ; nếu đề hỏi hệ số tương quan thì lấy rồi gắn dấu theo hệ số góc trong cột hệ số. Con số S trong bảng là độ lệch chuẩn của phần dư, hoàn toàn khác , đừng lấy nhầm khi câu hỏi yêu cầu đo mức độ giải thích.
Khi đề cho và hỏi , nhớ bình phương trước khi diễn giải.
Một cái bẫy quen thuộc là đáp án đưa sẵn cả lẫn kèm hai câu chữ na ná nhau, trong đó câu gắn với lại mô tả bằng ngôn ngữ của . Do đó hãy tính giá trị trước, đọc kĩ chủ ngữ của câu diễn giải sau, và kiểm tra xem biến nào đang đóng vai trò biến phản hồi vì đảo hai biến là sai nghĩa hoàn toàn.
(a) Khoảng biến thiên trong chi tiêu du lịch hằng năm của các hộ gia đình được giải thích bởi mô hình hồi quy tuyến tính theo thu nhập hằng năm. (b) , mang dấu dương vì hệ số góc dương và biểu đồ phân tán có hướng đi lên; giữa thu nhập và chi tiêu du lịch có tương quan tuyến tính dương mạnh. (c) Phát biểu sai: hệ số xác định nói về phần biến thiên được giải thích, không nói về bản thân số tiền, và dữ liệu quan sát này không cho phép kết luận thu nhập gây ra mức chi tiêu.
và , do đó hệ số xác định bằng . Nói cách khác, biến thiên trong điểm kiểm tra của 5 học sinh này được giải thích bởi mô hình hồi quy tuyến tính theo số giờ tự học mỗi tuần; còn lại đến từ những yếu tố khác chưa có trong mô hình.