AP Statistics
uniform distribution

Phân phối đều là phân phối xác suất trong đó mọi giá trị trong một khoảng xác định đều có khả năng xuất hiện như nhau.
Phân phối đều (uniform distribution) mô tả một biến ngẫu nhiên có khả năng nhận bất kỳ giá trị nào trong một khoảng nhất định với xác suất (probability) như nhau. Khi vẽ biểu đồ tần suất, phân phối này có dạng hình chữ nhật nằm ngang với chiều cao không đổi từ đầu đến cuối khoảng. Do đó, xác suất biến rơi vào một đoạn con bất kỳ chỉ phụ thuộc vào độ dài của đoạn đó, không phụ thuộc vào vị trí của đoạn trong toàn khoảng.
Giả sử biến ngẫu nhiên liên tục nhận giá trị trong khoảng từ đến . Hàm mật độ xác suất được định nghĩa bởi với . Công thức này cho thấy xác suất trên mỗi đơn vị độ dài là hằng số, và diện tích toàn bộ hình chữ nhật bằng 1. Vì vậy, xác suất biến rơi vào đoạn nằm trong đơn giản là .
Trung bình và độ lệch chuẩn (standard deviation) của phân phối đều trên lần lượt là và . Nhờ đó, ta thấy trung bình nằm chính giữa khoảng, còn độ lệch chuẩn tỉ lệ thuận với độ rộng của khoảng. Ngược lại với nhiều phân phối thường gặp trong thực tế, phân phối đều ít xuất hiện trong dữ liệu (data) quan sát; tuy nhiên, nó đóng vai trò nền tảng trong lý thuyết xác suất và xuất hiện trong các kiểm định so sánh tần suất quan sát với kỳ vọng đồng đều.
Trực giác: Hãy tưởng tượng một chiếc bánh xe quay hoàn toàn cân bằng được đánh số từ 0 đến 100—mọi vị trí đều có cùng cơ hội được kim chỉ vào, không có vùng nào được ưu tiên hơn vùng nào.
Dùng để tính mật độ xác suất tại một điểm; muốn tìm xác suất trên một khoảng thì nhân mật độ với độ dài khoảng đó.
Trong đó
Dùng để tìm trung tâm của phân phối đều — đúng bằng trung điểm của hai cận.
Trong đó
ý tưởng có từ thế kỷ 16; tên gọi "uniform" xuất hiện năm 1937Gerolamo CardanoPierre-Simon LaplaceJ. V. Uspensky
Với phân phối đều liên tục, xác suất tại một điểm bằng 0; chiều cao chỉ là mật độ.
Với một biến ngẫu nhiên liên tục (continuous random variable), xác suất luôn là diện tích dưới đường mật độ (density curve), mà diện tích của một đoạn có bề rộng bằng 0 thì cũng bằng 0. Do đó với mọi , và hệ quả trực tiếp là — dấu "nhỏ hơn" hay "nhỏ hơn hoặc bằng" không làm đáp số đổi. Chỉ khi bài toán là phân phối đều rời rạc (discrete uniform distribution), chẳng hạn tung một con xúc xắc cân đối, thì mỗi giá trị mới thực sự mang xác suất dương .
Độ lệch chuẩn của phân phối đều là , không phải nửa bề rộng khoảng.
Thật ra hai tham số đúng là trong đó và là hai đầu mút của khoảng. Trung bình thì đúng là điểm giữa nhờ tính đối xứng, nhưng độ lệch chuẩn nhỏ hơn nửa bề rộng khá nhiều — với nó chỉ khoảng chứ không phải . Vì vậy khi đề cho phương sai hay độ lệch chuẩn của phân phối đều, hãy nhớ hằng số thay vì suy đoán từ hình vẽ.
Dữ liệu từ phân phối đều, nhưng trung bình mẫu lại có phân phối gò đối xứng quanh .
Đây chính là nội dung của định lý giới hạn trung tâm (central limit theorem), và vì phân phối đều đối xứng, không có đuôi dài, nên chỉ cần cỡ mẫu vừa phải là xấp xỉ chuẩn đã rất tốt. Do đó với câu hỏi về , bạn tính bằng mô hình chuẩn với và , chứ không tính diện tích hình chữ nhật nữa.
Biểu đồ tần số trông phẳng chưa chứng minh tổng thể có phân phối đều.
Vì vậy câu trả lời "histogram phẳng nên phân phối là đều" bị coi là kết luận vội, không có bằng chứng thống kê. Muốn kiểm tra nghiêm túc, người ta so tần số quan sát với tần số kỳ vọng bằng nhau ở mọi nhóm qua kiểm định chi-bình phương về mức độ phù hợp (chi-square goodness-of-fit test), rồi mới kết luận dựa trên giá trị p.
Quiz câu thật từ ngân hàng đề
Vài câu thật gắn đúng khái niệm này, chấm ngay kèm giải thích từng đáp án — hệ thống ghi nhớ bạn nắm tới đâu.
Biên soạn bởi DucklingStudy, bản quyền thuộc DucklingStudy. Xuất bản .
Dùng để đo mức phân tán của phân phối đều; phương sai chỉ phụ thuộc vào độ rộng miền, không phụ thuộc vào vị trí trung tâm.
Trong đó
Trước khi có lý thuyết xác suất, người chơi xúc xắc đã phải trả lời một câu hỏi rất thực tế: nên đặt cược thế nào cho công bằng khi sáu mặt của con súc sắc chẳng mặt nào hơn mặt nào. Cuốn cẩm nang về cờ bạc Liber de Ludo Aleae ở thế kỷ 16 đã bàn đến ý niệm đồng khả năng (equiprobability) chính từ nhu cầu đó. Về sau, khi giải tích được đưa vào xác suất, mô hình "mọi kết quả như nhau" được mở rộng từ một số hữu hạn mặt xúc xắc sang cả một khoảng số thực, và dạng liên tục (continuous uniform distribution) trở thành mô hình chuẩn cho những đại lượng chỉ biết nằm giữa hai cận mà không có lý do thiên vị vùng nào.
Vì sao mang đúng cái tên này? Nguồn gốc của chữ "uniform" không được ghi chép dứt khoát, nhưng giả thuyết phổ biến là nó thoát thai từ quan niệm mọi kết quả đều có cùng khả năng xảy ra trong trò xúc xắc. Chữ "đều" vì thế không nói về khoảng cách giữa các giá trị mà nói về cơ hội: mọi kết quả đều được đối xử như nhau, không kết quả nào được ưu ái. Đáng chú ý là bối cảnh sinh ra cái tên lại là trường hợp rời rạc, còn ngày nay ta vẫn dùng đúng tính từ ấy cho trường hợp liên tục. Tên gọi này được ghi nhận lần đầu năm 1937, trong cuốn Introduction to Mathematical Probability của J. V. Uspensky. Trong nhiều tài liệu, phân phối đều liên tục còn mang một tên thứ hai là phân phối chữ nhật (rectangular distribution), lấy từ dáng đồ thị: hàm mật độ giữ nguyên một độ cao trên toàn khoảng nên phần diện tích dưới đường cong đúng là một hình chữ nhật. Hai cái tên vì vậy mô tả cùng một sự vật từ hai phía: một bên nhìn vào cơ hội, một bên nhìn vào hình dạng.
Kéo hai đầu mút $a$, $b$ — nhìn chiều cao hộp tự hạ xuống để diện tích luôn bằng 1
Kéo tham số, thấy khái niệm chuyển động — mở khoá bằng tài khoản 0đ.
Vẽ hình chữ nhật, ghi chiều cao và tô miền cần tính trước khi bấm máy.
Sau đó viết hẳn phép nhân dạng rồi mới ra số. Nếu chỉ ghi mỗi đáp số, câu trả lời dễ bị trừ điểm phần "work shown" dù kết quả đúng.
Đừng dùng normalcdf cho bài phân phối đều; chỉ cần tỉ số độ dài đoạn trên toàn khoảng.
Bẫy hay gặp là đề cho "thời gian chờ xe buýt trải đều từ 0 đến 12 phút" rồi hỏi xác suất chờ quá 9 phút; nhiều bạn phản xạ chuẩn hóa và mất trọn điểm. Chỉ chuyển sang mô hình chuẩn khi câu hỏi đã nói về trung bình của nhiều lần quan sát.
Với xác suất có điều kiện, thu hẹp về khoảng điều kiện rồi lấy tỉ số độ dài.
Viết rõ công thức ở dòng đầu để chứng minh bạn không đoán mò. Ngoài ra, luôn kèm đơn vị và một câu kết luận theo ngữ cảnh, vì phần lớn rubric đòi câu trả lời đặt lại trong tình huống của đề.
Hành khách có xác suất phải chờ hơn 9 phút và xác suất khoảng phải chờ từ 4 đến 9 phút. Trung bình mỗi lần ra trạm người đó chờ phút, với độ lệch chuẩn khoảng phút.
Vì giá trị , ta không bác bỏ giả thuyết không. Dữ liệu 120 lần tung không cung cấp bằng chứng thuyết phục cho thấy sáu mặt của con xúc xắc xuất hiện lệch khỏi phân phối đều; nói cách khác, các chênh lệch quan sát được hoàn toàn có thể chỉ do biến thiên ngẫu nhiên của việc lấy mẫu.