AP Statistics
estimationVietnamese: phép ước lượng

Phép ước lượng (estimation) là quá trình dùng thông tin từ mẫu để suy ra giá trị của một tham số chưa biết trong tổng thể.Estimation is the process of using information from a sample to infer the value of an unknown population parameter.
Trực giác: Ước lượng giống như nếm một muỗng canh để biết độ mặn của cả nồi: bạn không ăn hết nồi canh, nhưng từ một muỗng đại diện có thể suy ra giá trị của toàn bộ.Intuition: Estimating is like tasting one spoonful of soup to judge how salty the whole pot is: you don't drink the pot, but one representative spoonful tells you about the whole.
Công thức chínhKey formula
Phép ước lượng dùng thống kê tính từ mẫu ngẫu nhiên để xấp xỉ tham số chưa biết của tổng thể. Ước lượng điểm cho một giá trị đại diện; ước lượng khoảng cho một khoảng quanh giá trị đó, dựa trên sai số biên.
Khoảng ước lượng đi kèm mức tin cậy: nếu lặp quy trình lấy mẫu và lập khoảng lâu dài, tỉ lệ tương ứng các khoảng sẽ chứa tham số thật.
Estimation uses a statistic computed from a random sample to approximate an unknown population parameter. A point estimate gives a single representative value; an interval estimate gives a range around that value, based on a margin of error.
An interval estimate comes with a confidence level: if the sampling-and-interval procedure were repeated indefinitely, that proportion of the resulting intervals would capture the true parameter.
Dùng khi biểu diễn một thống kê mẫu như ước lượng điểm xấp xỉ tham số chưa biết của tổng thể.Use this when writing a sample statistic as a point estimate that approximates an unknown population parameter.
Trong đóWhere
Dùng khi lập khoảng ước lượng cho tham số tổng thể bằng giá trị tới hạn và sai số chuẩn.Use this when building an interval estimate for a population parameter from a critical value and the standard error.
Trong đóWhere
Khoảng tin cậy 95% không gán xác suất 0,95 cho tham số.
Sau khi tính, khoảng và tham số đều cố định. Mức 95% mô tả tỉ lệ khoảng chứa tham số khi lặp quy trình lâu dài.
Ta ước lượng tham số tổng thể, không ước lượng thống kê mẫu.
Trung bình mẫu và tỉ lệ mẫu đã được tính từ dữ liệu; chúng là ước lượng điểm cho trung bình hoặc tỉ lệ tổng thể.
Biên sai số không bù được sai lệch do thiết kế lấy mẫu.
Nó chỉ phản ánh biến động lấy mẫu trong điều kiện của thủ tục. Mẫu tự nguyện hoặc không hồi đáp có thể gây sai lệch mà tăng cỡ mẫu không khắc phục.
A 95% confidence interval does not assign probability 0.95 to the parameter.
Once computed, both the interval and the parameter are fixed. The 95% describes the long-run proportion of such intervals that capture the parameter.
We estimate population parameters, not sample statistics.
A sample mean or sample proportion is already calculated from the data; it serves as the point estimate for the population mean or proportion.
A margin of error does not correct for bias from the sampling design.
It reflects only the sampling variability of the stated procedure. Voluntary response or nonresponse can create bias that a larger sample size will not fix.
Trình bày ước lượng theo bốn bước.
Nêu tham số và ngữ cảnh; gọi thủ tục, kiểm tra điều kiện; tính toán; rồi diễn giải kết quả theo ngữ cảnh.
Diễn giải khoảng tin cậy đủ ba thành phần.
Nêu mức tin cậy, tham số trong ngữ cảnh, hai đầu mút và đơn vị; không diễn giải thành phần trăm cá thể hay mẫu nằm trong khoảng.
Present an estimate in four steps.
State the parameter in context; name the procedure and check conditions; carry out the computation; then interpret the result in context.
Interpret a confidence interval with all three components.
Give the confidence level, the parameter in context, and both endpoints with units; never interpret it as a percent of individuals or of samples falling in the interval.
1922R. A. Fisher
Vì sao mang đúng cái tên này? Cái tên gắn chặt với chính định nghĩa mà Fisher đưa ra: ta không biết tham số thật của tổng thể và cũng không bao giờ biết được, nên việc duy nhất có thể làm là đưa ra một giá trị phỏng định dựa trên mẫu — tức là "ước lượng" chứ không phải "xác định". Vì vậy, kèm theo tên gọi, Fisher phải lập ra các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng của phỏng định ấy; tính vững (consistency) là một trong số đó, được ông giới thiệu ngay trong bài báo năm 1922 với ý rằng nếu tính trên toàn bộ tổng thể thì thống kê đó phải bằng đúng giá trị cần tìm. Cụm ước lượng không chệch (unbiased estimate) xuất hiện trong quyển "Statistical Methods for Research Workers" năm 1925, dù bản thân ý tưởng đã có từ trước đó rất lâu.
Rút một mẫu, đọc con số nó cho — rồi vén màn xem bạn trượt bao xa
Kéo tham số, thấy khái niệm chuyển động — đăng nhập để mở.Drag the parameters and watch the concept move — sign in to open.
Quiz câu thật từ ngân hàng đềReal exam questions from our question bank
Vài câu thật gắn đúng khái niệm này, chấm ngay kèm giải thích từng đáp án — hệ thống ghi nhớ bạn nắm tới đâu.A few real questions on exactly this concept, graded instantly with an explanation for every choice — the system remembers how well you know it.
Biên soạn bởi DucklingStudy, bản quyền thuộc DucklingStudy.Written by DucklingStudy. © DucklingStudy. Xuất bảnPublished .