AP Statistics
test statistic
Còn gọi: đại lượng kiểm định · statistic kiểm định · giá trị thống kê kiểm định · observed value of the test statistic

Thống kê kiểm định là số đo khoảng cách giữa ước lượng từ mẫu và giá trị của giả thuyết không, tính theo số lần sai số chuẩn của ước lượng.
Khi tiến hành kiểm định giả thuyết, người ta cần một con số ghi lại mức độ khác biệt giữa giá trị mẫu thu được và giá trị mà giả thuyết không (null hypothesis) cho là đúng. Thống kê kiểm định chính là con số đó; nó được tính bằng cách lấy ước lượng từ mẫu trừ đi giá trị giả định, rồi chia cho sai số chuẩn (standard error) của ước lượng. Công thức tổng quát có thể viết là trong đó là thống kê mẫu, là tham số theo giả thuyết không, còn là sai số chuẩn. Do đó, thống kê kiểm định đo khoảng cách không theo đơn vị gốc mà theo số lần sai số chuẩn.
Việc chia cho sai số chuẩn giúp loại bỏ ảnh hưởng của thang đo và độ biến thiên tự nhiên, nên hai tình huống khác nhau có thể so sánh được trên cùng một thước. Nếu giá trị tuyệt đối của thống kê kiểm định lớn, nghĩa là kết quả mẫu nằm khá xa so với điều giả thuyết không dự đoán; ngược lại, giá trị gần không cho thấy dữ liệu không mâu thuẫn mạnh với giả thuyết đó. Từ thống kê kiểm định, ta tra phân phối tương ứng để tìm giá trị p, tức xác suất thu được kết quả cực đoan như vậy nếu giả thuyết không đúng. Vì vậy, con số này là cầu nối giữa dữ liệu thực tế và quyết định thống kê.
Tùy theo đại lượng cần suy luận mà ta dùng các công thức khác nhau. Với tỉ lệ một mẫu, công thức thường là còn với trung bình một mẫu khi chưa biết độ lệch chuẩn tổng thể, ta dùng Cả hai đều có cùng ý nghĩa: số lần sai số chuẩn mà giá trị mẫu lệch khỏi giả thuyết không. Nhờ đó, khi đã biết tên phân phối và giá trị kiểm định, người làm thống kê có thể xác định mức ý nghĩa và đưa ra kết luận cho vấn đề nghiên cứu.
Trực giác: Như khi rút nhiều mẫu khác nhau từ một tổng thể, tính trung bình mỗi mẫu rồi so sánh với giá trị giả định: ta không chỉ nhìn chênh lệch tuyệt đối mà còn chia cho độ biến thiên thường thấy giữa các mẫu, tỉ số đó chính là thống kê kiểm định.
Dùng khi kiểm định giả thuyết về tỉ lệ tổng thể với cỡ mẫu đủ lớn (điều kiện np₀ ≥ 10 và n(1−p₀) ≥ 10 thỏa mãn), để tính trị số kiểm định z so với phân phối chuẩn tắc.
Trong đó
1908William Sealy GossetKarl PearsonE. A. W. ZimmermannJohn Sinclair
Mẫu số của thống kê kiểm định cho tỉ lệ phải dùng , không dùng .
Đây là chỗ mất điểm dai dẳng nhất, vì trong khoảng tin cậy học sinh đã quen lấy tỉ lệ mẫu để tính sai số chuẩn (standard error), rồi mang thói quen đó sang bài kiểm định. Nhưng toàn bộ phép kiểm định được thực hiện trong thế giới giả định rằng giả thuyết không (null hypothesis) đúng, nên độ lệch chuẩn của phân bố mẫu cũng phải được tính bằng chính giá trị mà giả thuyết không nêu ra: . Với bài lấy người Na Uy và , mẫu số đúng là , dù tỉ lệ mẫu quan sát được là . Đề rất hay đặt sẵn cả hai phương án cạnh nhau để bẫy đúng thói quen này.
Giá trị p không phải xác suất để giả thuyết không đúng.
Nó là xác suất quan sát được một giá trị của thống kê kiểm định bằng hoặc cực đoan hơn giá trị đã tính, với điều kiện giả thuyết không đúng ngay từ đầu. Trong bài kiểm định khi bình phương về tính đồng nhất (chi-square test for homogeneity) với thống kê và giá trị p (p-value) bằng , cách đọc đúng là: nếu bốn trường thực sự không khác nhau về tỉ lệ vắng, thì chỉ có khả năng thu được một giá trị thống kê từ trở lên. Đáp án nào bỏ mất cụm "giả sử giả thuyết không đúng", hoặc đổi chiều thành xác suất của giả thuyết, đều sai.
Mẫu số của hai mẫu là sai số chuẩn của hiệu hai trung bình, không phải tổng hai độ lệch chuẩn.
Nhiều bạn viết ngay rồi quên chia cho cỡ mẫu, hoặc cộng thẳng . Công thức đúng cho bài so sánh lương là trong đó mỗi phương sai mẫu phải được chia cho cỡ mẫu tương ứng trước khi cộng. Hãy nhớ nguyên tắc chung: tử số luôn là "cái quan sát được trừ cái được kỳ vọng", còn mẫu số luôn là độ lệch chuẩn của chính đại lượng ở tử số.
Không bác bỏ giả thuyết không không có nghĩa là đã chứng minh nó đúng.
Khi , kết luận chuẩn chỉ là "không có bằng chứng thuyết phục ủng hộ giả thuyết đối", chứ tuyệt đối không phải "số liệu chứng tỏ hai nhóm bằng nhau". Tương tự, một thống kê kiểm định mang dấu âm không hề "xấu" hay "sai": dấu âm chỉ cho biết giá trị quan sát nằm bên trái giá trị giả định, như trong bài tỉ lệ. Điều quyết định là khoảng cách tính theo đơn vị sai số chuẩn lớn hay nhỏ, không phải dấu.
Quiz câu thật từ ngân hàng đề
Vài câu thật gắn đúng khái niệm này, chấm ngay kèm giải thích từng đáp án — hệ thống ghi nhớ bạn nắm tới đâu.
Biên soạn bởi DucklingStudy, bản quyền thuộc DucklingStudy. Xuất bản .
Dùng khi kiểm định giả thuyết về trung bình tổng thể mà độ lệch chuẩn tổng thể chưa biết; trị số kiểm định t được so sánh với phân phối t có bậc tự do bằng n−1.
Trong đó
Dùng trong kiểm định độ phù hợp (goodness-of-fit) hoặc kiểm định tính độc lập của bảng hai chiều; mỗi số hạng đo mức lệch bình phương giữa tần số quan sát O và tần số kỳ vọng (expected frequency) E tại một ô, rồi cộng lại toàn bảng.
Trong đó
Gosset tốt nghiệp Oxford ngành khoa học tự nhiên và toán, rồi năm 1899 vào làm Trưởng bộ phận nấu bia thực nghiệm tại Guinness. Công việc của ông là bảo đảm chất lượng nguyên liệu, mà nguyên liệu thì chỉ lấy mẫu được vài lô nhỏ chứ không thể đo hết. Từ nhu cầu rất đời thường ấy, Gosset xây dựng một cách quy toàn bộ chứng cứ trong mẫu về một con số rồi so nó với một phân phối đã biết. Guinness cho phép công bố với điều kiện giấu tên tác giả, để đối thủ không đoán ra hãng đang dùng phương pháp gì. Gosset chọn bút danh "Student" và đăng bài trên tạp chí Biometrika của Karl Pearson năm 1908.
Vì sao mang đúng cái tên này? Tên gọi ghép từ hai mảnh có lịch sử rất khác nhau. Mảnh thứ hai, "statistic", bắt nguồn từ "statistics" — thuật ngữ mà Zimmermann đưa vào tiếng Anh năm 1787 và Sinclair củng cố năm 1790 với công trình khảo sát Scotland; gốc của nó là những từ Ý và Đức mang nghĩa "nhà nước" (state), vì buổi đầu nó chỉ có nghĩa là số liệu dân cư và kinh tế của một quốc gia. Về sau nghĩa hẹp lại thành "một đại lượng tính từ mẫu", đối lập với tham số (parameter) của tổng thể. Mảnh thứ nhất, "test", được thêm vào để chỉ rõ công dụng: con số đó không dùng để mô tả mà để kiểm định giả thuyết (hypothesis testing). Vì vậy đại lượng của Gosset không mang tên ông mà mang tên bút danh, thành "Student's t" — một cái tên nghe như của sinh viên nhưng thật ra sinh ra từ một nhà máy bia.
Giữ nguyên chênh lệch 8 điểm phần trăm rồi kéo n — nhìn cây kim trượt dần ra đuôi
Kéo tham số, thấy khái niệm chuyển động — mở khoá bằng tài khoản 0đ.
Viết công thức tổng quát bằng ký hiệu trước, rồi mới thay số.
Ở phần tự luận, giám khảo cho điểm riêng cho bước nêu đúng công thức và bước thay số đúng, nên chỉ bấm máy ra là bỏ mất điểm dù kết quả trúng. Trình bày đủ ba dòng — công thức, thay số, giá trị — vừa an toàn vừa giúp bạn tự phát hiện nếu lỡ dùng nhầm ở mẫu số.
Câu diễn giải giá trị p phải có đủ ba mảnh mới được trọn điểm.
Đó là cụm "nếu giả thuyết không đúng", cụm "bằng hoặc cực đoan hơn" và giá trị thống kê cụ thể đã tính, tất cả đặt trong ngữ cảnh của bài toán chứ không nói chung chung. Câu trắc nghiệm về giá trị p gần như luôn có bốn phương án chỉ khác nhau ở đúng ba mảnh này.
Kiểm tra dấu và độ lớn của thống kê trước khi chọn đáp án.
Thống kê khi bình phương và thống kê luôn không âm, nên phương án có dấu trừ là loại ngay; ngược lại và có thể âm mà vẫn hoàn toàn hợp lệ. Ngoài ra, nếu giá trị tính ra lớn bất thường như hay , khả năng cao bạn đã quên căn bậc hai hoặc quên chia cho ở mẫu số.
Thống kê kiểm định là với độ lệch chuẩn , dẫn tới . Vì giá trị này nhỏ hơn , ta bác bỏ giả thuyết không và kết luận rằng có bằng chứng thuyết phục cho thấy tỉ lệ người Na Uy có nhóm máu A dương khác với tỉ lệ 36% của Hoa Kỳ.
Thống kê kiểm định là với , tương ứng . Vì , ta bác bỏ giả thuyết không và kết luận có bằng chứng thuyết phục rằng lương trung bình của người có bằng cử nhân khác lương trung bình của người có bằng thạc sĩ, cụ thể là thấp hơn.