AP Statistics
sampling distribution of a statistic
Còn gọi: sampling distribution · phân bố mẫu · phân phối lấy mẫu

Phân phối mẫu của một thống kê là phân phối các giá trị mà thống kê đó nhận được khi lấy mọi mẫu cùng cỡ n từ cùng một tổng thể.
Khi lấy một mẫu ngẫu nhiên và tính trung bình mẫu , mỗi lần lấy lại cho một con số khác. Hãy tưởng tượng ta lặp lại việc này cho tất cả các mẫu có cùng cỡ từ cùng một tổng thể rồi ghi lại giá trị trung bình của từng mẫu: tập các giá trị đó tạo thành một biến ngẫu nhiên (random variable), và phân phối của nó chính là phân phối mẫu của thống kê (statistic) đang xét. Vì tổng thể chỉ có một nhưng mỗi mẫu lại cho một ước lượng riêng, ta cần một công cụ để mô tả sự dao động ấy, và phân phối mẫu chính là công cụ đó.
Giống mọi phân phối xác suất, phân phối mẫu có trung tâm và độ phân tán. Trung tâm của phân phối mẫu của bằng đúng trung bình tổng thể: ; do đó, một ước lượng được gọi là không chệch nếu trung tâm phân phối mẫu của nó trùng với tham số cần ước lượng. Độ phân tán được đo bằng sai số chuẩn (standard error):
Công thức này nói rằng trung bình mẫu dao động quanh với độ lệch nhỏ dần theo căn bậc hai của cỡ mẫu, vì vậy mẫu càng lớn thì ước lượng càng ổn định.
Hình dạng của phân phối mẫu là thứ làm nên sức mạnh của suy luận thống kê. Theo định lý giới hạn trung tâm (central limit theorem), khi đủ lớn, phân phối mẫu của xấp xỉ phân phối chuẩn ngay cả khi bản thân tổng thể không chuẩn. Ngược lại, với mẫu nhỏ lấy từ tổng thể lệch mạnh, xấp xỉ này có thể kém chính xác, nên các kết luận rút ra từ khoảng tin cậy hoặc kiểm định giả thuyết cần được xem xét thận trọng hơn.
Biên soạn bởi DucklingStudy, bản quyền thuộc DucklingStudy. Xuất bản .
Trực giác: Như rút hàng nghìn lần một nắm gạo từ cùng một bao: mỗi nắm cân ra một số khác nhau, và bảng ghi lại toàn bộ các số cân ấy chính là phân phối mẫu của khối lượng một nắm.
Dùng để khẳng định trung bình mẫu (sample mean) là ước lượng không chệch (unbiased estimator) của trung bình tổng thể. Công thức này đúng với mọi cỡ mẫu n.
Trong đó
Dùng để tính độ phân tán của phân phối mẫu khi tổng thể có độ lệch chuẩn σ đã biết và mẫu được chọn ngẫu nhiên. Công thức yêu cầu điều kiện độc lập: cỡ mẫu n phải nhỏ hơn 10% tổng thể (quy tắc 10%).
Trong đó
Girolamo Ghilini — người đưa ra từ "statistic" năm 1589Gottfried Achenwall — người dùng từ này theo nghĩa hiện đại từ 1749John Graunt — tác giả công trình thống kê sớm ở châu Âu, 1663
Hãy hình dung một bể cá giống sắp được thả xuống hồ và người ta muốn biết chiều dài trung bình của cả bể. Đo hết từng con thì quá tốn công, nên chỉ hai mươi con được bắt ngẫu nhiên và trung bình mẫu được dùng để ước lượng trung bình tổng thể. Vấn đề nảy sinh ngay lập tức: nếu bắt hai mươi con khác thì con số thu được sẽ khác. Chính nhu cầu mô tả cái "khác" ấy một cách có quy luật đã sinh ra phân phối mẫu, thứ trả lời câu hỏi trung bình mẫu thường lệch khỏi trung bình tổng thể bao nhiêu. Từ đó sai số chuẩn (standard error) trở thành thước đo cho khoảng cách này.
Vì sao mang đúng cái tên này? Tên gọi gồm hai phần và mỗi phần đều nói lên một điều. Phần "thống kê" bắt nguồn từ chữ Latinh "status" nghĩa là tình trạng, hoàn cảnh của xã hội; đến giai đoạn Latinh muộn nó mang nghĩa "nhà nước", rồi được Achenwall chuyển thành từ Đức "statistik", tức bản tóm lược tình hình quốc gia. Ban đầu đây là công việc của người cai trị muốn nắm dân số và tài sản, chứ chưa dính gì đến xác suất. Từ này vào tiếng Anh khoảng năm 1770 và mang nghĩa toán học như ngày nay từ thập niên 1790. Phần "mẫu" mới là chỗ dễ hiểu nhầm nhất. Phân phối này không phải phân phối của các cá thể trong một mẫu, mà là phân phối của những con số tính được từ toàn bộ các mẫu cùng cỡ có thể lấy ra. Nói cách khác, đơn vị được đem đi đếm không còn là từng quan trắc mà là từng mẫu, và mỗi mẫu đóng góp đúng một giá trị. Vì vậy đây là một phân phối lý thuyết (theoretical distribution): ta hầu như không bao giờ lấy hết mọi mẫu, ta chỉ lập luận về việc điều gì sẽ xảy ra nếu làm như thế. Cách đặt tên cũng giải thích vì sao mỗi thống kê lại có phân phối mẫu riêng của nó. Trung bình mẫu, trung vị mẫu, độ lệch chuẩn (standard deviation) mẫu hay hệ số tương quan mẫu đều là những hàm khác nhau của dữ liệu, nên chúng dao động theo những kiểu khác nhau. Do đó trong đề thi, cụm "of a statistic" luôn cần được đọc kỹ để biết đang nói về đại lượng nào.
Bấm rút mẫu nhiều lần — nhìn đống chấm trung bình mẫu tự dựng thành một phân phối riêng
Kéo tham số, thấy khái niệm chuyển động — mở khoá bằng tài khoản 0đ.
Phân phối mẫu không phải phân phối của dữ liệu trong một mẫu.
Khi vẽ biểu đồ điểm số của 40 học sinh được chọn, ta chỉ đang mô tả phân phối của mẫu đó. Phân phối mẫu lại là phân phối của một con số tóm tắt — chẳng hạn trung bình mẫu hay tỉ lệ mẫu — khi ta hình dung việc lấy tất cả các mẫu cỡ có thể có. Do đó mỗi "quan sát" trong phân phối mẫu là một mẫu trọn vẹn, chứ không phải một cá thể.
Định lý giới hạn trung tâm không làm cho tổng thể trở nên chuẩn.
Tổng thể lệch phải thì lấy mẫu bao nhiêu lần vẫn lệch phải; thứ tiến về dạng chuẩn là phân phối của khi đủ lớn. Vì vậy khi viết lời giải, phải nói rõ định lý giới hạn trung tâm (central limit theorem) áp dụng cho phân phối mẫu của trung bình, chứ không phải cho dữ liệu gốc. Nhầm chỗ này là mất trọn điểm phần kiểm tra điều kiện.
Sai số chuẩn nhỏ đi khi cỡ mẫu tăng, còn độ lệch chuẩn của tổng thể thì không.
Công thức cho thấy độ phân tán của trung bình mẫu co lại theo , nên mẫu lớn cho ước lượng ổn định hơn. Ngược lại, là đặc trưng cố định của tổng thể và không hề thay đổi khi ta lấy mẫu nhiều hơn. Nhiều bài mất điểm chỉ vì thay vào chỗ đáng lẽ phải là sai số chuẩn (standard error).
Phân phối mẫu là khái niệm lý thuyết, không phải kết quả của vài lần lấy mẫu thật.
Trong thực hành ta chỉ lấy được một mẫu duy nhất, nhưng vẫn nói được trung tâm và độ phân tán của phân phối mẫu nhờ lý thuyết. Khi mô phỏng 200 lần trên máy, thứ thu được chỉ là phân phối mô phỏng xấp xỉ, và đề thường hỏi khéo để xem học sinh có phân biệt được hai thứ này không.
Luôn viết rõ ba chữ "phân phối mẫu của…" kèm tên thống kê.
Câu "phân phối mẫu của xấp xỉ chuẩn" được điểm, còn câu "dữ liệu xấp xỉ chuẩn" thì không, dù ý trong đầu có thể đúng. Giám khảo chấm theo chữ viết ra, nên đừng để người đọc phải đoán bạn đang nói về tổng thể, về mẫu hay về thống kê.
Kiểm tra điều kiện phải kèm số, không chỉ kèm tên.
Với tỉ lệ, viết hẳn và ; với điều kiện 10% (10% condition), viết và nói rõ tổng thể đủ lớn. Ghi tên điều kiện suông mà không thế số vào là kiểu trình bày bị trừ điểm thường xuyên nhất ở phần tự luận.
Trước khi tính xác suất, hỏi ngay: bài đang nói về một cá thể hay về trung bình mẫu?
Nếu là một cá thể thì chuẩn hóa bằng ; nếu là thì chia cho . Đây là bẫy quen thuộc của phần trắc nghiệm, vì cả hai lựa chọn sai và đúng đều xuất hiện sẵn trong bốn đáp án.
Phân phối mẫu của nhận các giá trị 3, 4, 5, 6, 7 với xác suất lần lượt . Trung bình của phân phối này bằng 5 giờ, đúng bằng trung bình tổng thể, nên trung bình mẫu là ước lượng không chệch cho số giờ tự học trung bình của cả lớp. Xác suất giáo viên chọn được cặp học sinh có số giờ tự học trung bình từ 6 giờ trở lên là khoảng .
Quiz câu thật từ ngân hàng đề
Vài câu thật gắn đúng khái niệm này, chấm ngay kèm giải thích từng đáp án — hệ thống ghi nhớ bạn nắm tới đâu.
Phân phối mẫu của lượng nước trung bình 50 hộ xấp xỉ chuẩn với tâm ở 3,2 m³ và sai số chuẩn khoảng 0,198 m³. Do đó, xác suất để 50 hộ được chọn ngẫu nhiên có lượng nước trung bình vượt quá 3,5 m³ chỉ vào khoảng , tức khoảng 6,5% — một kết quả như vậy là khá hiếm nhưng chưa đến mức bất thường.