AP Statistics
standard error

Sai số chuẩn là ước lượng độ lệch chuẩn của một đại lượng thống kê mẫu, đo mức dao động của nó khi lặp lại việc lấy mẫu nhiều lần.
Khi ta lấy một mẫu ngẫu nhiên và tính trung bình mẫu, con số thu được sẽ khác nhau mỗi lần lấy mẫu. Tập hợp tất cả các giá trị có thể có của đại lượng thống kê ấy tạo thành phân phối mẫu (sampling distribution), và phân phối này cũng có độ lệch chuẩn riêng của nó. Tuy nhiên, độ lệch chuẩn thật của phân phối mẫu thường phụ thuộc vào tham số tổng thể mà ta không biết. Vì vậy, ta thay tham số chưa biết bằng số liệu từ chính mẫu, và kết quả thu được gọi là sai số chuẩn.
Với trung bình mẫu, sai số chuẩn được tính bằng
trong đó là độ lệch chuẩn của mẫu và là cỡ mẫu. Với tỉ lệ mẫu, công thức tương ứng là , nghĩa là ta dùng tỉ lệ quan sát được thay cho tỉ lệ tổng thể chưa biết. Cả hai công thức đều có ở mẫu số, do đó cỡ mẫu càng lớn thì sai số chuẩn càng nhỏ và ước lượng của ta càng ổn định. Ngược lại, một điểm đề thi hay gài là sai số chuẩn không phụ thuộc vào kích thước tổng thể: khảo sát 100 người ở một thành phố nhỏ hay ở cả nước đều cho sai số chuẩn như nhau nếu cỡ mẫu bằng nhau.
Sai số chuẩn xuất hiện ở khắp phần suy luận thống kê. Nó là "đơn vị đo khoảng cách" trong khoảng tin cậy (confidence interval), vì biên sai số luôn có dạng giá trị tới hạn nhân với sai số chuẩn, chẳng hạn . Trong kiểm định giả thuyết, thống kê kiểm định cũng được tính bằng cách chia độ lệch giữa mẫu và giả thuyết cho sai số chuẩn. Nhờ đó, hiểu rõ sai số chuẩn là chìa khóa để đọc mọi công thức suy luận trong đề thi.
Trực giác: Mỗi lần bốc một vốc gạo khác nhau từ bao lớn rồi tính trọng lượng hạt trung bình của vốc đó, các trung bình sẽ hơi khác nhau giữa các vốc; sai số chuẩn cho biết các trung bình ấy thường lệch nhau cỡ bao nhiêu.
Dùng khi cần đo độ chính xác của trung bình mẫu trong vai trò ước lượng trung bình tổng thể; là cỡ mẫu, là độ lệch chuẩn của mẫu đó.
Trong đó
Dùng khi thống kê quan tâm là tỉ lệ mẫu thay vì trung bình; công thức này ước lượng độ dao động của qua các mẫu lặp lại.
Bài toán gốc rất đời thường: không ai khảo sát được toàn bộ tổng thể, nên người ta lấy mẫu rồi lấy trung bình mẫu làm đại diện. Nhưng đổi mẫu thì trung bình cũng đổi, và câu hỏi đặt ra là mức dao động ấy lớn cỡ nào. Sai số chuẩn ra đời để trả lời đúng câu hỏi đó, và nhờ nó mà khoảng tin cậy (confidence interval) trở nên khả thi: giới hạn 95% quen thuộc được dựng theo , tức lấy trung bình mẫu cộng trừ gần hai lần sai số chuẩn. Vì vậy đại lượng này gắn chặt với ý tưởng rằng mẫu càng lớn thì ước lượng càng bám sát giá trị thật.
Sai số chuẩn không phải độ lệch chuẩn (standard deviation) của dữ liệu.
Khi đề cho mẫu 1.215 học sinh với trung bình 180 phút và độ lệch chuẩn 45 phút, con số 45 mô tả mức dao động giữa các học sinh, còn thứ đề hỏi lại là mức dao động của chính giá trị trung bình mẫu qua các lần lấy mẫu. Vì vậy phải chia thêm cho , tức phút. Chọn thẳng 45 là rơi đúng vào phương án gài sẵn trong hầu hết đề trắc nghiệm dạng này.
Với hai mẫu, cộng hai phân số dưới dấu căn rồi mới lấy căn một lần.
Công thức đúng là , nghĩa là hai phương sai chia cho cỡ mẫu tương ứng được cộng lại trước, sau đó mới khai căn toàn bộ. Hai lỗi phổ biến là lấy căn từng số hạng rồi cộng, tức viết , hoặc trừ hai phân số vì thấy tham số cần ước lượng là hiệu . Cần nhớ rằng hiệu của hai đại lượng độc lập vẫn làm độ biến thiên tăng lên, nên bên trong căn luôn là dấu cộng. Cũng đừng gộp thành như thể hai mẫu là một.
Khoảng tin cậy cho hiệu hai tỉ lệ không dùng tỉ lệ gộp (pooled).
Ở bài về dịch vụ hẹn hò trực tuyến, sai số chuẩn là với và giữ riêng từng mẫu. Việc gộp chỉ hợp lý trong kiểm định giả thuyết, nơi giả thiết không cho rằng hai tỉ lệ quần thể bằng nhau; khi ước lượng một hiệu số, ta không hề giả định điều đó. Một lỗi khác cùng chỗ là thay số đếm 144 vào vị trí của thay vì thay tỉ lệ, khiến biểu thức dưới căn âm và máy báo lỗi.
Sai số chuẩn giảm theo căn bậc hai của cỡ mẫu, không giảm theo tỉ lệ thẳng.
Vì nằm dưới dấu căn, tăng gấp đôi cỡ mẫu chỉ làm sai số chuẩn nhỏ đi khoảng 29 phần trăm, còn muốn nó giảm đi một nửa thì phải lấy mẫu gấp bốn lần. Do đó những câu hỏi kiểu "tăng từ 100 lên 400 thì độ chính xác thay đổi thế nào" không được trả lời bằng phép chia bốn. Hệ quả kéo theo trong phân bố mẫu (sampling distribution) là biên độ sai số (margin of error) cũng co lại theo đúng nhịp căn bậc hai đó.
Quiz câu thật từ ngân hàng đề
Vài câu thật gắn đúng khái niệm này, chấm ngay kèm giải thích từng đáp án — hệ thống ghi nhớ bạn nắm tới đâu.
Biên soạn bởi DucklingStudy, bản quyền thuộc DucklingStudy. Xuất bản .
Trong đó
Dùng trong suy luận hồi quy tuyến tính để đo độ không chắc chắn của hệ số góc mẫu ; giá trị này thường được phần mềm thống kê tính và in sẵn trong bảng kết quả.
Trong đó
Vì sao mang đúng cái tên này? Tên gọi ghép từ hai mảnh có lý do rõ ràng. Chữ "chuẩn" thừa hưởng từ độ lệch chuẩn, bởi sai số chuẩn thực chất vẫn là một độ lệch chuẩn — chỉ khác ở chỗ nó đo độ phân tán của các giá trị thống kê tính từ vô số mẫu, chứ không đo độ phân tán của các quan sát trong một mẫu. Chữ "sai số" thì chỉ khoảng chênh giữa con số ta tính được và con số thật của tổng thể; đây là chênh lệch sinh ra tự nhiên từ việc lấy mẫu ngẫu nhiên, không phải lỗi đo đạc hay lỗi của người làm thống kê. Chính vì cái tên dễ gây nhầm mà tài liệu chuyên môn luôn nhấn mạnh sự phân biệt: trung bình và độ lệch chuẩn mô tả dữ liệu đã có trong tay, còn sai số chuẩn là một phát biểu xác suất về quá trình lấy mẫu, dựa trên định lý giới hạn trung tâm (central limit theorem).
Kéo cỡ mẫu lên gấp bốn — nhìn đám trung bình mẫu co lại còn một nửa
Kéo tham số, thấy khái niệm chuyển động — mở khoá bằng tài khoản 0đ.
Viết công thức bằng ký hiệu trước, thay số sau, rồi mới bấm máy.
Ở phần tự luận, giám khảo cho điểm khi thấy bạn nêu đúng biểu thức và thay đúng giá trị, ngay cả khi kết quả cuối lệch do bấm nhầm; ngược lại, một con số trần trụi không kèm công thức thường bị coi là chưa chứng minh được bạn hiểu mình đang làm gì. Với hai mẫu, hãy ghi rõ nhóm nào là 1, nhóm nào là 2 ngay từ đầu để phần diễn giải dấu của hiệu số về sau không bị ngược.
Đừng nhầm sai số chuẩn với biên độ sai số.
Sai số chuẩn là phần đứng một mình, còn biên độ sai số là tích của nó với giá trị tới hạn hoặc . Câu hỏi trắc nghiệm rất hay để sẵn cả hai con số trong bốn phương án, nên khi đọc đề phải dừng lại xem người ta hỏi "standard error" hay "margin of error". Nếu đề nói khoảng tin cậy 90 phần trăm mà chỉ hỏi sai số chuẩn thì con số 90 phần trăm hoàn toàn không tham gia vào phép tính.
Kiểm tra đơn vị của kết quả trước khi khoanh đáp án.
Sai số chuẩn của một trung bình mang đúng đơn vị của dữ liệu gốc, chẳng hạn phút hoặc số con cá, và luôn nhỏ hơn độ lệch chuẩn mẫu vì đã chia cho . Sai số chuẩn của một tỉ lệ thì không có đơn vị và hầu như luôn là số rất nhỏ, thường dưới với cỡ mẫu vài trăm. Một đáp án lớn bất thường gần như chắc chắn là bạn quên chia cho hoặc quên khai căn.
Sai số chuẩn của trung bình mẫu là phút, nghĩa là các trung bình mẫu từ những mẫu ngẫu nhiên cỡ 1.215 học sinh dao động quanh trung bình thật của tổng thể khoảng 1,29 phút. Để rút con số này xuống còn khoảng 0,65 phút, nhà nghiên cứu phải khảo sát 4.860 học sinh.
Sai số chuẩn của hiệu hai tỉ lệ là . Khoảng tin cậy 90% cho hiệu hai tỉ lệ tổng thể là khoảng từ đến ; vì khoảng này chứa 0 nên ta không có bằng chứng cho thấy tỉ lệ người sẵn sàng dùng dịch vụ hẹn hò trực tuyến ở hai nhóm tuổi là khác nhau.