AP Statistics
sampling distribution of sample means

Phân phối lấy mẫu của trung bình mẫu là phân phối xác suất của mọi giá trị trung bình mẫu thu được khi lấy mọi mẫu ngẫu nhiên cùng cỡ từ một tổng thể.
Khi một nhà thống kê (statistic) muốn ước lượng trung bình (mean) tổng thể , họ không thể đo toàn bộ tổng thể mà chỉ lấy một mẫu và tính trung bình mẫu . Nếu ta hình dung lặp lại (replication) quá trình đó — lấy vô số mẫu cùng cỡ , mỗi lần tính — thì toàn bộ các giá trị ấy tạo nên một phân phối riêng, gọi là phân phối lấy mẫu của trung bình mẫu (sampling distribution of sample means). Phân phối này cho biết dao động như thế nào quanh khi ta thay đổi mẫu.
Phân phối lấy mẫu của trung bình mẫu có hai tính chất cốt lõi liên quan đến trung tâm (center) và độ phân tán. Thứ nhất, kỳ vọng (expected value) của bằng chính , tức là , nghĩa là trung bình mẫu là ước lượng không chệch của trung bình tổng thể — về lâu dài nó không hệ thống vượt cao hay hạ thấp hơn . Thứ hai, độ lệch chuẩn của phân phối này, còn gọi là sai số chuẩn (standard error), được tính bằng công thức , trong đó là độ lệch chuẩn tổng thể và là cỡ mẫu. Do đó, mẫu càng lớn thì các giá trị càng tụ chặt quanh .
Về hình dạng, định lý giới hạn trung tâm khẳng định rằng khi đủ lớn — thực hành thường lấy mốc — phân phối lấy mẫu của xấp xỉ phân phối chuẩn (normal distribution) , bất kể tổng thể gốc có hình dạng ra sao. Ngược lại, nếu tổng thể đã có phân phối chuẩn từ đầu thì phân phối của là chuẩn với mọi , kể cả nhỏ. Vì vậy, ta có thể tính xác suất (probability) liên quan đến trong cả hai trường hợp bằng cách chuẩn hóa rồi tra bảng phân phối chuẩn.
Biên soạn bởi DucklingStudy, bản quyền thuộc DucklingStudy. Xuất bản .
Trực giác: Giống như việc múc nhiều mẫm gạo khác nhau từ một bao, mỗi mẫm gồm n hạt, rồi tính trung bình khối lượng của từng mẫm; nếu lặp lại nhiều lần và vẽ biểu đồ các trung bình đó, chúng sẽ tạo thành phân phối lấy mẫu của trung bình mẫu quanh khối lượng trung bình thật.
Dùng để khẳng định trung bình của phân phối lấy mẫu luôn bằng trung bình tổng thể, bất kể cỡ mẫu; đây là lý do trung bình mẫu được gọi là ước lượng không chệch (unbiased estimator) của trung bình tổng thể.
Trong đó
Dùng khi cần tính sai số chuẩn (standard error) — độ lệch chuẩn của phân phối lấy mẫu — để đo mức biến động của trung bình mẫu; áp dụng khi biết độ lệch chuẩn tổng thể và mẫu được rút ngẫu nhiên.
Trong đó
đầu thế kỷ 20Carl Friedrich GaussWalter ShewhartW. Edwards Deming
Ở thế kỷ 18, các nhà toán học mà tiêu biểu là Gauss đã đặt nền cho việc lấy trung bình của một nhóm số đo để ước lượng một đại lượng chưa biết. Tuy nhiên, phải đến đầu thế kỷ 20, khi các nhà máy cần biết dây chuyền của mình có đang chạy đúng chuẩn hay không, ý tưởng ấy mới thành công cụ hằng ngày. Người ta không thể đo hết mọi sản phẩm, nên chỉ bốc ra vài chục cái, tính trung bình, rồi lặp lại việc đó theo ca. Nhờ đó nảy ra câu hỏi cốt lõi: bản thân các trung bình ấy phân tán ra sao? Chính câu hỏi này sinh ra phân phối lấy mẫu và toàn bộ thống kê suy diễn (inferential statistics) về sau.
Vì sao mang đúng cái tên này? Cái tên nghe rối vì nó gộp hai tầng vào một cụm, và phải đọc ngược từ sau ra trước mới thông. "Trung bình mẫu" cho biết đơn vị được đem xếp thành phân phối không phải từng cá thể, mà là thống kê tính từ cả một mẫu; "lấy mẫu" cho biết phân phối ấy sinh ra từ việc tưởng tượng rút tất cả các mẫu cỡ có thể có từ cùng một tổng thể. Do đó đây là phân phối lý thuyết chứ không phải phân phối thực nghiệm: ta không bao giờ lấy đủ chừng ấy mẫu, ta chỉ suy ra hình dạng của nó. Định lý giới hạn trung tâm (central limit theorem) cho biết hình dạng đó là , nghĩa là các trung bình mẫu xúm quanh trung bình tổng thể với độ phân tán co lại theo . Đại lượng vì thế mang tên riêng là sai số chuẩn (standard error), dùng để đo một trung bình mẫu thường nằm cách bao xa.
Rút mẫu hàng nghìn lần — nhìn đống trung bình mẫu co lại và hoá chuông
Kéo tham số, thấy khái niệm chuyển động — mở khoá bằng tài khoản 0đ.
Phân phối của một mẫu cụ thể không phải là phân phối lấy mẫu của trung bình mẫu.
Khi lấy một mẫu gồm 40 quan sát rồi vẽ biểu đồ, thứ ta nhìn thấy là hình dạng của 40 số liệu đó, và nó thường phản chiếu hình dạng của phân phối tổng thể (population distribution) chứ không hề chụm lại. Phân phối lấy mẫu là một khái niệm ở tầng khác: mỗi mẫu chỉ đóng góp đúng một điểm, đó là giá trị của nó, rồi ta tưởng tượng lặp lại việc lấy mẫu vô số lần. Do đó khi đề hỏi về hình dạng, hãy tự hỏi trước: đơn vị được vẽ lên trục là một cá thể hay một trung bình mẫu?
Độ lệch chuẩn của trung bình mẫu chia cho , không chia cho .
Công thức đúng là , và đại lượng này thường được gọi là sai số chuẩn (standard error) khi ta phải ước lượng từ dữ liệu. Chia nhầm cho làm độ phân tán teo đi quá nhanh, kéo theo giá trị bị thổi phồng và xác suất tính ra nhỏ đến mức vô lý. Một cách tự kiểm tra nhanh: tăng cỡ mẫu lên gấp bốn thì độ phân tán chỉ giảm một nửa, chứ không giảm bốn lần.
Định lý giới hạn trung tâm không làm cho tổng thể trở nên đối xứng.
Định lý giới hạn trung tâm (central limit theorem) chỉ nói rằng khi đủ lớn, phân phối của xấp xỉ chuẩn; tổng thể lệch phải thì vẫn cứ lệch phải mãi mãi, dù ta có lấy mẫu bao nhiêu lần. Vì vậy câu trả lời kiểu "cỡ mẫu lớn nên dữ liệu gốc trở nên chuẩn" bị trừ điểm ngay cả khi phần tính toán phía sau hoàn toàn đúng. Ngược lại, hãy viết rõ rằng phân phối của trung bình mẫu xấp xỉ chuẩn nhờ cỡ mẫu lớn.
Ngưỡng không phải điều kiện bắt buộc trong mọi bài.
Nếu đề nói tổng thể có phân phối chuẩn, thì đã chuẩn chính xác với mọi cỡ mẫu, kể cả ; viết "mẫu quá nhỏ nên không làm được" là bỏ phí điểm. Ngưỡng 30 chỉ là quy ước thực hành cho trường hợp tổng thể có hình dạng lạ hoặc chưa biết. Tuy nhiên, với tổng thể lệch rất mạnh thì ngay cả cũng có thể chưa đủ, nên lý lẽ phải bám vào thông tin đề cho chứ không đọc thuộc lòng con số.
Trung bình của phân phối lấy mẫu không thay đổi khi cỡ mẫu tăng.
Luôn có , nghĩa là tâm của phân phối lấy mẫu nằm đúng chỗ tham số của tổng thể dù bằng 5 hay bằng 500. Cái thay đổi chỉ là bề rộng: càng lớn thì các giá trị càng bám sát . Nhiều học sinh mô tả hiệu ứng của cỡ mẫu bằng cách nói "trung bình dịch về gần hơn", và câu đó sai về bản chất vì tâm vốn đã ở đó ngay từ đầu.
Viết rõ ba điều kiện trước khi tính, đừng nhảy thẳng vào con số.
Bài tự luận chấm riêng phần điều kiện: mẫu phải ngẫu nhiên, các quan sát độc lập nhờ điều kiện 10% (10% condition) tức , và điều kiện về hình dạng phải nêu lý do cụ thể là tổng thể chuẩn hay cỡ mẫu đủ lớn. Nhờ đó, dù phần tính toán phía sau có sai số nhỏ, phần lập luận vẫn giữ được điểm.
Phân biệt với ngay từ dòng đầu lời giải.
Hai câu hỏi này dùng chung một đề nhưng mẫu số của giá trị khác hẳn: một cá thể dùng , còn trung bình của cá thể dùng . Cách an toàn là viết hẳn ký hiệu và kèm giá trị số ra giấy trước khi bấm máy. Bẫy quen thuộc của đề trắc nghiệm là đặt sẵn đáp án nhiễu ứng với việc quên chia .
Chỉ dùng cho trung bình mẫu, tuyệt đối không dùng cho tỉ lệ mẫu.
Khi đề chuyển sang tỉ lệ, độ phân tán là và điều kiện hình dạng đổi thành cùng . Ngoài ra, nếu đề không cho của tổng thể mà chỉ cho của mẫu, hãy chuyển sang phân phối với thay vì tiếp tục dùng bảng .
Phân phối lấy mẫu của có dạng chuẩn với giờ và giờ. Xác suất để trung bình thời lượng pin của 9 chiếc điện thoại được chọn ngẫu nhiên vượt quá 19 giờ là khoảng , tức chỉ chừng 11 trong 100 mẫu cỡ 9 cho kết quả cao như vậy.
Quiz câu thật từ ngân hàng đề
Vài câu thật gắn đúng khái niệm này, chấm ngay kèm giải thích từng đáp án — hệ thống ghi nhớ bạn nắm tới đâu.
Cả hai điều kiện đều đạt, nên phân phối lấy mẫu của xấp xỉ chuẩn với tâm phút và sai số chuẩn khoảng phút. Xác suất để 50 lượt khách được chọn ngẫu nhiên có thời gian chờ trung bình dưới 3,5 phút chỉ vào khoảng ; nếu ban quản lý thực sự quan sát được kết quả này thì đó là bằng chứng đáng chú ý rằng thời gian chờ trung bình thật sự thấp hơn con số 4,2 phút đã công bố.