AP Statistics
margin of error
Còn gọi: maximum error of estimate

Sai số biên là nửa độ rộng của khoảng tin cậy, đo lượng sai lệch tối đa có thể chấp nhận giữa ước lượng điểm và tham số thực của tổng thể.
Khi nhà thống kê dùng một thống kê mẫu để ước lượng một tham số tổng thể, họ không thể kỳ vọng kết quả hoàn toàn chính xác. Do đó, thay vì chỉ báo cáo một con số duy nhất, họ xây dựng một khoảng tin cậy (confidence interval) xung quanh ước lượng điểm đó. Sai số biên chính là phần "cộng trừ" tạo nên khoảng ấy, và được tính theo công thức
trong đó là giá trị tới hạn ứng với mức tin cậy đã chọn, là độ lệch chuẩn (standard deviation) của tổng thể, và là cỡ mẫu. Công thức này nói rằng sai số biên bằng tích của giá trị tới hạn và sai số chuẩn của thống kê.
Sai số biên phụ thuộc vào ba yếu tố theo những chiều ngược nhau. Mức tin cậy càng cao thì càng lớn, khiến sai số biên tăng lên — ta đổi độ chính xác lấy độ chắc chắn. Ngược lại, cỡ mẫu càng lớn thì sai số biên càng nhỏ, vì nằm ở mẫu số. Nhờ đó, muốn giảm sai số biên xuống một nửa mà không thay đổi mức tin cậy, cần tăng cỡ mẫu lên bốn lần.
Trong thực hành, sai số biên xuất hiện trong mọi dạng khoảng tin cậy ở chương trình AP: ước lượng tỉ lệ tổng thể, ước lượng trung bình tổng thể, hay hiệu hai tham số. Khoảng tin cậy luôn có dạng , nghĩa là ước lượng điểm cộng hoặc trừ sai số biên . Vì vậy, hiểu sai số biên là hiểu được cả chiều rộng lẫn ý nghĩa của khoảng tin cậy.
Trực giác: Sai số biên giống như bán kính vùng dao động dự kiến quanh con số ước lượng từ mẫu: nếu lặp lại khảo sát với nhiều mẫu khác nhau, các kết quả sẽ rơi rải rác trong vùng đó, phản ánh sự bất định do chỉ quan sát một phần tổng thể chứ không phải ngưỡng chấp nhận được.
Dùng khi xây dựng khoảng tin cậy cho trung bình tổng thể với độ lệch chuẩn tổng thể đã biết; ME cho biết ước lượng điểm có thể lệch khỏi tham số thực tối đa bao nhiêu.
Trong đó
khoảng 1855–1860Jerzy Neyman — được một số tài liệu ghi nhận công hình thức hoá ý tưởng
Khi việc điều tra toàn bộ dân số là bất khả thi, người ta lấy mẫu rồi suy ra cho tổng thể — nhưng mỗi mẫu lại cho một kết quả hơi khác nhau. Câu hỏi thực tế đặt ra là: kết quả thăm dò lệch khỏi sự thật bao nhiêu thì còn chấp nhận được? Sai số biên ra đời như một cách gói toàn bộ nỗi lo ấy vào một con số duy nhất đi kèm ước lượng, cho biết sai số lấy mẫu ngẫu nhiên (random sampling error) có thể lớn cỡ nào. Nhờ đó, khi đọc một tỉ lệ ủng hộ trong khảo sát, công chúng hiểu rằng con số ấy là một khoảng chứ không phải một điểm. Nguồn gốc chính xác của thuật ngữ vẫn chưa rõ, và một số nghiên cứu cho rằng chính các nhà báo là người đặt ra nó để mô tả mức sai lệch của mẫu.
Sai số biên không phải độ lệch chuẩn của mẫu.
Sai số biên luôn là tích của giá trị tới hạn (critical value) với sai số chuẩn (standard error) của thống kê, chứ không phải bản thân độ lệch chuẩn (standard deviation) của dữ liệu. Với mẫu 10 nhân viên có trung bình 38 phút và độ lệch chuẩn 6 phút, con số 6 mới chỉ mô tả mức phân tán của các thời gian đi làm; muốn biết trung bình mẫu dao động bao nhiêu quanh trung bình quần thể ta phải chia cho căn bậc hai cỡ mẫu, tức . Nhân tiếp với mới ra sai số biên khoảng phút. Do đó bài toán này có ba con số dễ nhầm lẫn nhau, và đáp án nhiễu thường chính là hoặc .
Có độ lệch chuẩn mẫu thì dùng , không dùng .
Nhiều học sinh thấy chữ "95 percent" là phản xạ điền ngay , nhưng chỉ đúng khi làm việc với tỉ lệ hoặc khi biết độ lệch chuẩn của quần thể. Khi đề chỉ cho tính từ mẫu, phân phối lấy mẫu của trung bình theo phân phối với bậc tự do ; với thì và giá trị tới hạn là , lớn hơn hẳn . Vì vậy dùng nhầm sẽ cho khoảng hẹp hơn thực tế và rơi đúng vào một lựa chọn nhiễu đã được cài sẵn. Hãy tập thói quen viết ra trước khi tra bảng.
Sai số biên 5% không có nghĩa 95% cử tri chọn trong khoảng 42%–52%.
Khoảng tin cậy (confidence interval) nói về tham số của quần thể, không nói về từng cá nhân trong mẫu, cũng không nói về chính đã biết chắc. Cách diễn giải đúng cho khoảng từ đến là: ta tin cậy rằng khoảng này chứa tỉ lệ thật của toàn bộ cử tri có ý định bầu cho ứng viên R. Ngược lại, những câu như "xác suất tham số nằm trong khoảng là 0.95" hay "95% số phiếu nằm giữa 42% và 52%" đều bị chấm sai vì chúng gán biến thiên cho tham số hoặc cho cá nhân, trong khi thứ thay đổi từ mẫu này sang mẫu khác chính là cái khoảng.
Giảm sai số biên một nửa cần cỡ mẫu gấp bốn, không phải gấp đôi.
Vì nằm dưới dấu căn trong , sai số biên tỉ lệ nghịch với chứ không tỉ lệ nghịch với . Muốn sai số biên còn một nửa thì phải gấp đôi, tức phải gấp bốn lần. Cũng vì vậy, việc tăng mẫu từ 900 lên 1000 gần như không cải thiện gì đáng kể, còn tăng mức tin cậy từ lên lại nới rộng khoảng ngay lập tức do tăng. Nắm được hai chiều đánh đổi này, bạn trả lời được hầu hết câu hỏi định tính về sai số biên mà không cần tính toán.
Quiz câu thật từ ngân hàng đề
Vài câu thật gắn đúng khái niệm này, chấm ngay kèm giải thích từng đáp án — hệ thống ghi nhớ bạn nắm tới đâu.
Biên soạn bởi DucklingStudy, bản quyền thuộc DucklingStudy. Xuất bản .
Dùng khi độ lệch chuẩn tổng thể chưa biết và phải ước lượng bằng độ lệch chuẩn mẫu s; phân phối t thay thế phân phối chuẩn để bù cho sự không chắc chắn thêm đó.
Trong đó
Dùng khi ước lượng tỉ lệ tổng thể; sai số chuẩn lúc này phụ thuộc vào chính tỉ lệ mẫu thay vì độ lệch chuẩn đo bằng đơn vị gốc.
Trong đó
Vì sao mang đúng cái tên này? Trong tiếng Anh, "margin" nghĩa là lề, khoảng dư ra ở mép; "margin of error" vì vậy là phần dư dành sẵn cho sai sót. Tên gọi phản ánh đúng cách dùng: người ta không khẳng định con số ước lượng là chính xác tuyệt đối mà chừa ra một khoảng lề hai bên. Cách dịch tiếng Việt "sai số biên" giữ nguyên hình ảnh đó — biên là mép, là ranh giới của khoảng tin cậy (confidence interval).
Kéo cỡ mẫu và mức tin cậy — nhìn nửa bề rộng của thanh co giãn
Kéo tham số, thấy khái niệm chuyển động — mở khoá bằng tài khoản 0đ.
Bài tìm cỡ mẫu luôn làm tròn LÊN, và phải chọn số thỏa mãn bất đẳng thức.
Giải cho ; nếu đề cho các lựa chọn 300, 350, 370 thì đáp án là 370 vì 350 vẫn chưa đủ. Khi tự viết bài, hãy trình bày rõ bất đẳng thức rồi mới kết luận, đừng nhảy thẳng vào số cuối. Nếu đề không cho nào, dùng vì tích đạt cực đại tại đó, cho sai số biên lớn nhất — đây cũng là lý do một mẫu 200 với cho sai số biên lớn hơn mọi phương án khác.
Đề hỏi ngược "mức tin cậy là bao nhiêu" thì lấy sai số biên chia cho sai số chuẩn.
Với và , sai số chuẩn là ; chia cho được , ứng với mức tin cậy khoảng . Hãy thuộc ba mốc quen thuộc là , và để nhận ra đáp án ngay mà không mất thời gian tra bảng.
Câu diễn giải phải có đủ mức tin cậy, tham số quần thể và ngữ cảnh của đề.
Giám khảo tìm ba yếu tố đó trong một câu duy nhất, nên hãy viết theo khuôn "Tôi tin cậy 95% rằng khoảng từ … đến … chứa [tham số] của [quần thể cụ thể]". Tránh từ "xác suất" khi nói về khoảng đã tính xong, và tuyệt đối không thay tên quần thể bằng chữ "mẫu". Một câu thiếu ngữ cảnh thường bị hạ từ essentially correct xuống partially correct dù công thức phía trên hoàn toàn đúng.
Khoảng tin cậy là , nghĩa là ta tin cậy 90% rằng tỉ lệ thật của người trưởng thành Mỹ ủng hộ tăng lương tối thiểu nằm trong khoảng 57,3% đến 62,7%. Mức tin cậy nhà báo dùng xấp xỉ 90%, và để rút sai số biên xuống còn một nửa với cùng mức tin cậy đó, cỡ mẫu phải tăng gấp bốn lần, tức 3600 người.
Sai số biên của khoảng tin cậy 95% xấp xỉ 4,29 phút, cho khoảng ước lượng . Ta tin cậy 95% rằng thời gian đi làm trung bình một chiều của toàn bộ nhân viên công ty nằm trong khoảng 33,71 phút đến 42,29 phút, và phải dùng phân phối t vì độ lệch chuẩn của dân số không biết mà cỡ mẫu lại nhỏ.