AP Statistics
confidence level
Còn gọi: mức tin cậy · confidence · C% · mức C% · mức tin cậy · mức độ tin cậy

Độ tin cậy (confidence level) là xác suất để quy trình xây dựng khoảng ước lượng tạo ra một khoảng thực sự chứa tham số tổng thể cần ước lượng.
Khi nhà thống kê xây dựng một khoảng ước lượng, họ không biết tham số tổng thể có nằm trong khoảng đó không. Điều có thể kiểm soát được là chất lượng của quy trình: nếu lặp lại lấy mẫu nhiều lần và mỗi lần đều áp dụng cùng một phương pháp, thì độ tin cậy cho biết tỉ lệ phần trăm các khoảng được tạo ra sẽ thực sự bao phủ tham số thật. Ví dụ, với , khoảng được gọi là khoảng tin cậy 95%.
Công thức tổng quát của một khoảng tin cậy cho tham số là:
trong đó là ước lượng điểm từ mẫu, là giá trị tới hạn (critical value) tương ứng với mức , và là sai số chuẩn (standard error) của ước lượng. Giá trị được tra từ phân phối chuẩn sao cho diện tích phần giữa hai đuôi đúng bằng .
Do đó, độ tin cậy và độ rộng khoảng ước lượng có quan hệ trực tiếp: tăng thì tăng, khoảng rộng hơn. Ngược lại, tăng cỡ mẫu thì giảm, nhờ đó khoảng hẹp hơn mà vẫn giữ nguyên . Vì vậy, để có khoảng vừa hẹp vừa đáng tin cậy, cách duy nhất là tăng cỡ mẫu.
Trực giác: Nếu in ra một nghìn tờ lịch dự báo thời tiết theo cùng một phương pháp, và 950 tờ dự đúng thực tế, thì phương pháp đó đạt độ tin cậy 95%.
Dùng khi cần xác định mức độ tin cậy gắn với một khoảng ước lượng: nếu alpha = 0.05 thì độ tin cậy là 0.95, nghĩa là 95% các khoảng được tạo ra theo quy trình này sẽ chứa tham số tổng thể thực sự.
Trong đó
đầu thập niên 1930 (thuật ngữ xuất hiện trong bài báo năm 1934, trình bày đầy đủ năm 1937)Jerzy Neyman (1894–1980)Egon Pearson (1895–1980)
Khi chỉ quan sát được một tập con lấy ngẫu nhiên từ tổng thể, người làm thống kê luôn vướng một câu hỏi khó: kết quả tính từ mẫu đáng tin đến đâu? Trước thập niên 1930, cách trả lời phổ biến là kiểm định giả thuyết (hypothesis testing), tức chỉ phán bác bỏ hay không bác bỏ một mệnh đề. Cách làm đó không cho biết tham số thật nằm trong vùng nào. Các phương pháp tính khoảng cho tỉ lệ nhị thức đã xuất hiện từ thập niên 1920, nhưng phải đến đầu những năm 1930 ý tưởng tổng quát mới thành hình, và bản trình bày đầy đủ đầu tiên được Neyman công bố năm 1937. Từ đó khoảng tin cậy lan sang kinh tế, tài chính, y học và khoa học xã hội.
Độ tin cậy 95% không phải xác suất tham số nằm trong khoảng vừa tính được.
Khi đã thay số và ra khoảng , mọi thứ trong đó đều là hằng số: hai đầu mút đã cố định, và giá trị thật của tham số tổng thể (population parameter) cũng cố định dù ta không biết nó bằng bao nhiêu. Vì vậy tham số hoặc nằm trong khoảng, hoặc không — không còn chỗ cho xác suất 0,95 nào cả. Con số 95% mô tả quy trình tạo khoảng chứ không mô tả riêng khoảng đã có, nên câu "xác suất trung bình tổng thể nằm giữa 367 và 558 là 0,95" bị chấm sai.
Con số 95% không nói gì về tỉ lệ dữ liệu hay tỉ lệ mẫu rơi vào khoảng.
Nhiều bài viết "95% số nông trại có diện tích từ 367 đến 558 mẫu Anh" hoặc "95% các mẫu có trung bình nằm trong khoảng này" — cả hai đều lệch mục tiêu. Độ tin cậy đếm số khoảng, không đếm số quan sát và cũng không đếm số trung bình mẫu. Cách diễn đạt đúng là: nếu lặp lại quy trình lấy mẫu ngẫu nhiên lặp lại (repeated random sampling) rất nhiều lần và mỗi lần dựng một khoảng, thì khoảng 95% trong số các khoảng ấy chứa tham số tổng thể.
Giải thích độ tin cậy và giải thích khoảng tin cậy là hai câu hỏi khác nhau.
Khi đề hỏi "interpret the interval", ta nói về một khoảng cụ thể: "Ta tin cậy 95% rằng diện tích trung bình của các nông trại ở Mỹ nằm giữa 367 và 558 mẫu Anh." Nhưng khi đề hỏi "interpret the confidence level", câu trả lời phải nhắc tới việc lặp lại quy trình và tỉ lệ các khoảng chứa tham số. Do đó nếu chép câu giải thích khoảng tin cậy (confidence interval) vào chỗ hỏi độ tin cậy, bài mất trọn điểm dù không có câu nào sai về mặt toán học.
Nâng độ tin cậy lên 99% không làm ước lượng chính xác hơn, chỉ làm khoảng rộng ra.
Với cùng một bộ dữ liệu, giá trị tới hạn lớn hơn kéo theo biên sai số (margin of error) lớn hơn, như thấy trong : chỉ có thay đổi, còn và giữ nguyên. Khoảng rộng hơn nghĩa là ta khoanh vùng tham số lỏng lẻo hơn, đổi lấy sự an toàn là quy trình ít khi trượt hơn. Vì vậy độ tin cậy cao và khoảng hẹp là hai mong muốn kéo ngược chiều nhau; muốn cả hai thì phải tăng cỡ mẫu .
Quiz câu thật từ ngân hàng đề
Vài câu thật gắn đúng khái niệm này, chấm ngay kèm giải thích từng đáp án — hệ thống ghi nhớ bạn nắm tới đâu.
Biên soạn bởi DucklingStudy, bản quyền thuộc DucklingStudy. Xuất bản .
Vì sao mang đúng cái tên này? Tên gọi bắt nguồn từ chữ "confidence" — sự tin cậy — mà Neyman dùng khi giới thiệu thuật ngữ trong bài báo năm 1934. Điều đáng chú ý là niềm tin ấy không đặt vào một khoảng cụ thể đã tính xong, mà đặt vào quy tắc sinh ra khoảng đó: cách tính được thiết kế sao cho, nếu lặp lại việc lấy mẫu mãi, một tỉ lệ xác định các khoảng sẽ chứa giá trị thật của tham số tổng thể. Vì vậy con số 95% không mô tả khoảng trước mắt bạn mà mô tả độ tin cậy của phương pháp — đây chính là quan điểm tần suất (frequentist) mà Neyman theo đuổi. Hiểu đúng gốc chữ "tin cậy" ở đây giúp tránh được lỗi diễn giải phổ biến nhất trong các câu hỏi tự luận về khoảng ước lượng.
Rút 100 mẫu — đếm xem bao nhiêu thanh bắt trúng đường tham số thật
Kéo tham số, thấy khái niệm chuyển động — mở khoá bằng tài khoản 0đ.
Diễn giải phải nêu đủ: lặp lấy mẫu cùng cỡ, mức 95%, và khoảng chứa tham số tổng thể.
Barem thường yêu cầu nêu rõ mẫu ngẫu nhiên có cùng cỡ ( chẳng hạn) lấy từ cùng tổng thể, nêu đúng mức 95%, và nói rõ các khoảng ấy chứa tham số tổng thể chứ không phải chứa trung bình mẫu. Thiếu cụm "cùng cỡ mẫu" hoặc viết nhầm thành "chứa " là mất điểm dù ý chính đã đúng.
Luôn viết ra tham số đang được ước lượng bằng ngôn ngữ của bài toán, không dùng chữ "nó".
Nếu bài so sánh hai tỉ lệ thì phải nói "hiệu hai tỉ lệ tổng thể ", nếu bài về nông trại thì phải nói "diện tích trung bình của tất cả nông trại ở Mỹ". Người chấm cần thấy bạn phân biệt được tham số với thống kê mẫu, nên một câu trả lời chung chung kiểu "95% các khoảng sẽ chứa giá trị đúng" thường chỉ được điểm một phần.
Tránh mọi từ chỉ xác suất khi giải thích độ tin cậy cho một khoảng đã tính.
Các cụm "probability", "chance", "likelihood" gắn với khoảng cụ thể đều bị coi là hiểu sai; hãy dùng "we are 95% confident" cho khoảng, và dành ngôn ngữ tần suất dài hạn ("about 95% of all such intervals would capture...") cho độ tin cậy. Một mẹo nhỏ khi kiểm bài: nếu trong câu của bạn có số 95% đứng cạnh chữ "xác suất" và một cặp số cụ thể, gần như chắc chắn câu đó cần viết lại.
(a) Nếu ta lặp lại nhiều lần việc chọn ngẫu nhiên 30 nông trại và mỗi lần đều lập khoảng theo cùng cách trên, thì khoảng 95% số khoảng thu được sẽ chứa diện tích trung bình thật của toàn bộ nông trại ở Mỹ. (b) Phát biểu sai vì độ tin cậy không nói gì về tỉ lệ các nông trại riêng lẻ; nó nói về tỉ lệ các khoảng chứa tham số. Cách nói đúng cho khoảng đã có là: ta tin cậy 95% rằng diện tích trung bình của tất cả nông trại ở Mỹ nằm giữa 367 và 558 acre.
(a) Với và các điều kiện đều thỏa, khoảng tin cậy 95% cho tỉ lệ cử tri ủng hộ dự án là . (b) Khoảng 99% là , rộng so với của khoảng 95%; tăng độ tin cậy làm khoảng rộng thêm vì giá trị tới hạn lớn hơn. (c) Mức 99% có nghĩa: nếu lặp lại việc chọn mẫu 400 cử tri và lập khoảng theo cùng phương pháp rất nhiều lần, khoảng 99% trong số các khoảng thu được sẽ chứa tỉ lệ ủng hộ thật của toàn bộ cử tri thành phố.