AP Statistics
critical value
Còn gọi: z* · z sao · z-critical · critical value z* · C.V.

Giá trị tới hạn là ngưỡng trên phân phối mẫu, dùng để phân chia miền bác bỏ và miền không bác bỏ giả thuyết không trong kiểm định thống kê.
Trong kiểm định giả thuyết, giá trị tới hạn đóng vai trò như một ranh giới: nếu thống kê kiểm định vượt qua ranh giới này, ta bác bỏ giả thuyết không . Vị trí của giá trị tới hạn phụ thuộc vào mức ý nghĩa (significance level) mà nhà nghiên cứu chọn trước khi thu thập dữ liệu. Khi càng nhỏ, giá trị tới hạn càng nằm xa tâm của phân phối, vì ta đòi hỏi bằng chứng mạnh hơn mới chịu bác bỏ .
Đối với kiểm định hai phía dùng phân phối chuẩn, tại ta có hai giá trị tới hạn ; bất kỳ thống kê kiểm định nào nằm ngoài khoảng đều dẫn đến quyết định bác bỏ . Ngược lại, kiểm định một phía chỉ có một giá trị tới hạn ở bên phải hoặc bên trái, tùy theo hướng của giả thuyết đối . Mỗi phân phối — chuẩn, , hoặc khi-bình phương () — có bảng giá trị tới hạn riêng, và thí sinh được cấp các bảng này trong đề thi AP.
Trong khoảng tin cậy, giá trị tới hạn xuất hiện trực tiếp trong công thức , quyết định độ rộng của khoảng. Vì vậy, cùng một bộ dữ liệu nhưng nâng độ tin cậy từ 90% lên 99% sẽ kéo tăng, và khoảng tin cậy rộng ra — ta chắc chắn hơn nhưng kém chính xác hơn.
Trực giác: Giá trị tới hạn giống vạch đích trong cuộc đua: thống kê kiểm định phải vượt qua vạch đó thì mới "thắng" — tức đủ bằng chứng bác bỏ giả thuyết không.
Dùng khi xây dựng khoảng tin cậy hoặc kiểm định giả thuyết cho tỉ lệ hay trung bình (cỡ mẫu lớn, độ lệch chuẩn tổng thể đã biết) với phân phối chuẩn hoá.
Trong đó
đầu thế kỷ 20Ronald A. FisherJerzy Neyman
Đầu thế kỷ 20, thống kê học đứng trước một câu hỏi rất thực tế: quan sát được một chênh lệch trong mẫu rồi, nhưng bao nhiêu thì mới đủ lớn để tin rằng nó không phải do may rủi lấy mẫu? Trước đó, việc phán đoán phần nhiều dựa vào cảm nhận của người phân tích, nên hai người cùng nhìn một bộ số liệu vẫn có thể kết luận ngược nhau. Những người đặt nền móng cho kiểm định giả thuyết (hypothesis testing), trong đó có Ronald A. Fisher và Jerzy Neyman, đã đưa ra ý tưởng vạch sẵn một mốc trên phân phối của thống kê kiểm định (test statistic). Nhờ đó, quyết định bác bỏ hay không bác bỏ trở thành một quy tắc công khai, ai kiểm tra lại cũng ra cùng kết luận.
Giá trị tới hạn không phải là giá trị của thống kê kiểm định tính từ dữ liệu.
Đây là hai đại lượng khác hẳn nhau về nguồn gốc. Giá trị tới hạn được tra ra từ phân phối mẫu trước khi nhìn số liệu, chỉ phụ thuộc vào mức ý nghĩa (significance level) , dạng phân phối và bậc tự do (degrees of freedom); còn thống kê kiểm định (test statistic) là hoặc tính được từ mẫu cụ thể. Vì vậy khi kết luận, ta so sánh $|t| $ với chứ không so hai con số cùng loại với nhau. Học sinh viết "t* = 2.31 nên bác bỏ" là đã lẫn vai của hai đại lượng.
Chia đôi hay không chia đôi tuỳ vào kiểm định một phía hay hai phía.
Với khoảng tin cậy và với kiểm định hai phía ở , diện tích bị chia đều cho hai đuôi nên mỗi đuôi còn và . Ngược lại, kiểm định một phía ở dồn toàn bộ diện tích về một đuôi, cho . Rất nhiều bài mất điểm chỉ vì bấm invNorm với trong khi lẽ ra phải bấm , hoặc ngược lại. Do đó trước khi tra bảng, hãy vẽ đường cong và tô miền bác bỏ (rejection region) để thấy rõ mỗi đuôi chứa bao nhiêu.
Chưa biết của tổng thể thì phải dùng , không được dùng .
Trong hầu hết bài toán về trung bình mà đề chỉ cho dữ liệu mẫu, độ lệch chuẩn tổng thể là ẩn số nên ta thay bằng và chuyển sang phân phối với . Phân phối này có đuôi dày hơn, nên và khoảng tin cậy rộng hơn một chút. Nếu dùng nhầm cho mẫu thay vì , khoảng tin cậy sẽ hẹp giả tạo và giám khảo trừ điểm ở bước chọn thủ tục. Chỉ khi đề nói rõ "the population standard deviation is known to be..." thì mới được quay lại .
Tăng độ tin cậy làm giá trị tới hạn lớn hơn, không phải nhỏ hơn.
Muốn chắc chắn hơn thì phải trùm một khoảng rộng hơn, nên kéo theo đi từ lên rồi . Cùng lúc đó, biên sai số cũng nở ra theo. Một số học sinh nghĩ ngược, cho rằng "tin cậy cao hơn thì kết quả chính xác hơn nên khoảng phải hẹp lại". Thực ra độ chính xác chỉ tăng khi tăng, còn nâng độ tin cậy luôn phải trả giá bằng khoảng rộng hơn.
Quiz câu thật từ ngân hàng đề
Vài câu thật gắn đúng khái niệm này, chấm ngay kèm giải thích từng đáp án — hệ thống ghi nhớ bạn nắm tới đâu.
Biên soạn bởi DucklingStudy, bản quyền thuộc DucklingStudy. Xuất bản .
Dùng khi độ lệch chuẩn tổng thể chưa biết và phải ước lượng bằng độ lệch chuẩn mẫu; tra Bảng B (t-Distribution Critical Values) trong phòng thi với cột α/2 và hàng df = n−1.
Trong đó
Dùng trong kiểm định phân phối (goodness-of-fit) và kiểm định độc lập; tra Bảng C (χ² Critical Values) với cột α và hàng bậc tự do tương ứng. Kiểm định χ² luôn một phía phải nên chỉ số dưới là α, không phải α/2.
Trong đó
Vì sao mang đúng cái tên này? Chữ "critical" trong tiếng Anh mang nghĩa "mang tính bước ngoặt, quyết định", chứ không phải "phê phán" như nghĩa thông dụng. Cái tên phản ánh đúng vai trò của con số này: nó là đường ranh giữa vùng kết quả được xem là không có ý nghĩa thống kê và vùng bị coi là bất thường, tức là biên của miền bác bỏ (rejection region). Chỉ cần thống kê kiểm định nhích qua mốc đó, kết luận lập tức đảo chiều — và chính tính chất "qua ngưỡng là đổi quyết định" đã cho nó cái tên tới hạn. Cũng vì vậy, cùng một con số ấy quay lại phục vụ việc dựng hai đầu mút của khoảng tin cậy (confidence interval), nơi nó lại đóng vai trò vạch biên cho vùng giá trị hợp lý của tham số.
Kéo vạch mốc — nhìn diện tích đuôi đổi, rồi hạ bậc tự do xem mốc bị đẩy ra xa
Kéo tham số, thấy khái niệm chuyển động — mở khoá bằng tài khoản 0đ.
Viết rõ ba thứ khi tra giá trị tới hạn: phân phối, bậc tự do và diện tích đuôi.
Một dòng như " with , two-tailed, " cho thấy bạn hiểu mình đang làm gì, và nếu bấm máy sai số cuối thì vẫn còn điểm ở bước thiết lập. Ngược lại, viết trơ một con số mà không nói nó từ đâu ra sẽ bị coi là đoán. Với chi bình phương và , nhớ rằng miền bác bỏ chỉ nằm ở đuôi phải nên không chia đôi .
Chọn một cách kết luận rồi theo đến cùng, đừng trộn hai cách.
Nếu đi theo hướng giá trị tới hạn, hãy so với và viết "since , we reject ". Nếu đi theo hướng -value, hãy so với . Câu "vì nên bác bỏ" là lỗi trộn hai thang đo và thường bị mất trọn điểm phần kết luận, dù số liệu tính đúng.
Kiểm tra dấu và tính đối xứng trước khi ghi đáp án.
Phân phối chuẩn và đối xứng nên và cùng độ lớn; bảng tra thường chỉ in phần dương, bạn phải tự thêm dấu âm cho đuôi trái. Khi tính khoảng tin cậy thì luôn dùng trị dương trong công thức , vì dấu đã lo phần còn lại. Một khoảng tin cậy có cận dưới lớn hơn cận trên là dấu hiệu bạn đã cộng nhầm dấu.
Giá trị tới hạn cho khoảng 95% là (với ), cho sai số biên giờ và khoảng tin cậy giờ. Nếu hạ xuống độ tin cậy 90% thì và khoảng hẹp lại còn giờ; nói cách khác, giá trị tới hạn chính là cái núm điều chỉnh: muốn chắc chắn hơn thì phải chấp nhận một khoảng rộng hơn.
Ở mức , giá trị tới hạn là và thống kê vượt qua ngưỡng đó, nên có bằng chứng thuyết phục rằng tỷ lệ khách gọi món tráng miệng tại chi nhánh này cao hơn 40%. Tuy nhiên ở mức , ngưỡng nâng lên và cùng dữ liệu ấy không còn đủ mạnh để bác bỏ khẳng định của hãng; kết luận phụ thuộc vào mức ý nghĩa đúng vì mức ý nghĩa là thứ định ra vị trí của giá trị tới hạn.