AP Statistics
degrees of freedomVietnamese: bậc tự do
Còn gọi:Also called: df · n-1 · n − 1 · độ tự do

Bậc tự do là số giá trị trong mẫu còn tự do thay đổi sau khi đã tính một thống kê mẫu; với suy luận về trung bình, nó bằng n trừ 1.Degrees of freedom is the number of sample values still free to vary once a sample statistic has been computed; for inference about a mean it equals n minus 1.
Trực giác: Nếu bạn cùng bốn bạn ăn buffet và cả nhóm quyết định chi đúng 500.000 đồng, thì khi bốn người đã chọn món của mình, người thứ năm sẽ bị giới hạn bởi số tiền còn lại — đó chính là “bậc tự do” bị mất đi.Intuition: Suppose you and four friends go to a buffet and the group decides to spend exactly 500,000 VND. Once four people have chosen their dishes, the fifth person is limited by the money that is left — that is the lost degree of freedom.
Công thức chínhKey formula
Bậc tự do là số giá trị độc lập còn có thể thay đổi sau khi dữ liệu chịu ràng buộc. Với mẫu quan sát đã biết trung bình mẫu, tổng bị cố định nên chỉ quan sát tự do; quan sát cuối phải bù để giữ nguyên trung bình.
Trong suy luận t một mẫu về trung bình khi chưa biết, bậc tự do bằng và quyết định phân phối t dùng để tính giá trị tới hạn hoặc giá trị p. Công thức không áp dụng cho mọi kiểm định.
Degrees of freedom is the number of independent values that can still vary after the data are subject to a constraint. In a sample of observations with a known sample mean, the total is fixed, so only observations are free; the last one must take whatever value keeps the mean unchanged.
For one-sample t inference about a mean when is unknown, the degrees of freedom equal , and they determine which t distribution is used to find the critical value or p-value. The formula does not apply to every test.
Dùng cho suy luận t một mẫu về trung bình khi độ lệch chuẩn tổng thể chưa biết; là cỡ mẫu.Used for one-sample t inference about a mean when the population standard deviation is unknown; is the sample size.
Trong đóWhere
Dùng để kiểm định hoặc lập khoảng tin cậy cho trung bình khi chưa biết; thống kê theo phân phối t với .Used to test or build a confidence interval for a mean when is unknown; the statistic follows a t distribution with .
Trong đóWhere
Kiểm định chi-square về tính độc lập không dùng .
Bậc tự do là , phụ thuộc số hàng và cột, không phải cỡ mẫu hay tổng số ô trừ một. Các tổng hàng và cột ràng buộc những ô còn lại.
Bậc tự do lớn không làm phân phối chi-square lệch phải hơn.
Khi bậc tự do tăng, phân phối bớt lệch và dần gần dạng chuông. Phân phối vẫn không âm và có đuôi phải.
Kiểm định t hai mẫu độc lập không mặc nhiên có .
Công thức này chỉ đúng khi giả định phương sai bằng nhau. Khi không giả định, máy tính dùng bậc tự do Welch; nếu làm tay, dùng và nêu rõ.
The chi-square test for independence does not use .
Its degrees of freedom are , which depend on the numbers of rows and columns, not on the sample size or the cell count minus one. The row and column totals constrain the remaining cells.
Large degrees of freedom do not make a chi-square distribution more right-skewed.
As the degrees of freedom increase, the distribution becomes less skewed and more bell-shaped. It still takes only nonnegative values and has a right tail.
A two-sample independent t test does not automatically have .
That formula holds only when you assume equal variances. Without that assumption, calculators report Welch's degrees of freedom; by hand, use and say so explicitly.
Hãy trình bày phép tính bậc tự do.
Trong bài kiểm định, ghi tên kiểm định, giá trị thống kê và bậc tự do thay vì chỉ ghi kết quả cuối.
Xác định loại kiểm định chi-square trước.
Kiểm định độ phù hợp dùng với loại; kiểm định tính độc lập trên bảng chéo dùng . Chọn sai công thức sẽ làm sai giá trị p.
Show how you compute the degrees of freedom.
In a test, report the name of the test, the value of the statistic, and the degrees of freedom instead of only the final conclusion.
Decide which chi-square test you are doing first.
A goodness-of-fit test uses for categories, while a test for independence on a two-way table uses . The wrong formula gives the wrong p-value.
1908Carl Friedrich GaussWilliam Sealy Gosset ("Student")Ronald Fisher
Vì sao mang đúng cái tên này? Cái tên nghe trừu tượng nhưng lại mô tả rất sát nội dung: nó đếm xem có bao nhiêu giá trị trong tập dữ liệu được "tự do" nhận giá trị bất kỳ. Khi ta đã dùng chính mẫu để ước lượng trung bình, tổng của các quan sát bị ấn định, nên giá trị đầu muốn thay đổi thế nào cũng được, còn giá trị cuối bị ràng buộc phải bù cho vừa. Vì vậy mỗi ràng buộc do việc ước lượng tham số sinh ra sẽ lấy đi một bậc tự do, và con số còn lại chính là số chiều mà dữ liệu thật sự còn được cựa quậy — đây cũng là lý do cách hiểu hình học được xem là cách hiểu đúng bản chất nhất. Trong công thức, bậc tự do thường được ký hiệu bằng chữ Hy Lạp , còn trong bảng tra và lời văn thì viết tắt là "d.f."; riêng Fisher lại dùng chữ , còn ngày nay được dành để chỉ cỡ mẫu.
Nguồn đối chiếuSources
Điền số vào bảng đã khoá tổng biên — đếm xem còn mấy ô thật sự do bạn quyết định
Kéo tham số, thấy khái niệm chuyển động — đăng nhập để mở.Drag the parameters and watch the concept move — sign in to open.
Quiz câu thật từ ngân hàng đềReal exam questions from our question bank
Vài câu thật gắn đúng khái niệm này, chấm ngay kèm giải thích từng đáp án — hệ thống ghi nhớ bạn nắm tới đâu.A few real questions on exactly this concept, graded instantly with an explanation for every choice — the system remembers how well you know it.
Biên soạn bởi DucklingStudy, bản quyền thuộc DucklingStudy.Written by DucklingStudy. © DucklingStudy. Xuất bảnPublished .