AP Statistics
chi-square distribution
Còn gọi: phân phối χ² · phân phối lý thuyết · theoretical distribution

Phân phối chi bình phương là phân phối xác suất liên tục, chỉ nhận giá trị không âm, xác định bởi một tham số duy nhất là bậc tự do.
Phân phối chi bình phương (chi-square distribution) được xây dựng từ các biến ngẫu nhiên chuẩn tắc. Nếu là các biến ngẫu nhiên độc lập có phân phối chuẩn tắc (standard normal distribution), thì tổng tuân theo phân phối chi bình phương với bậc tự do. Bậc tự do kiểm soát hình dạng của phân phối: với bậc tự do nhỏ, phân phối lệch phải rõ rệt và tập trung gần gốc; khi bậc tự do tăng dần, độ lệch giảm đi và hình dạng tiệm cận phân phối chuẩn.
Trong thực hành AP Statistics, thống kê kiểm định chi bình phương được tính theo công thức
trong đó là tần số quan sát và là tần số kỳ vọng theo giả thuyết không. Tổng bình phương có trọng số này đo mức độ chênh lệch giữa dữ liệu thực tế và mô hình lý thuyết: giá trị càng lớn thì bằng chứng chống lại giả thuyết không càng mạnh. Tuy nhiên, cùng một giá trị lại cho xác suất khác nhau tùy theo bậc tự do đang dùng, vì vậy không thể kết luận chỉ từ con số thống kê mà không xét đến phân phối tương ứng.
Do đó, để áp dụng phân phối chi bình phương một cách hợp lệ, cần kiểm tra hai điều kiện: mẫu được chọn ngẫu nhiên từ tổng thể, và mọi tần số kỳ vọng đều lớn hơn 5. Điều kiện thứ hai đảm bảo rằng xấp xỉ liên tục là đủ chính xác cho dữ liệu đếm. Vì vậy, khi tiến hành kiểm định, người học cần lưu ý cách xác định bậc tự do cho từng loại kiểm định: trong kiểm định phù hợp (goodness-of-fit test), bậc tự do bằng số nhóm phân loại trừ một; còn trong kiểm định độc lập hoặc đồng nhất trên bảng hai chiều (two-way table), bậc tự do bằng với và lần lượt là số hàng và số cột.
Biên soạn bởi DucklingStudy, bản quyền thuộc DucklingStudy. Xuất bản .
Trực giác: Phân phối chi bình phương giống như thước đo hình dáng của tổng bình phương các sai lệch ngẫu nhiên: nếu bạn lặp lại nhiều lần thử nghiệm độc lập và cộng các bình phương sai lệch chuẩn hóa, phân phối này cho biết tổng đó sẽ rơi vào khoảng nào với xác suất bao nhiêu, tùy theo bậc tự do.
Dùng trong kiểm định sự phù hợp (goodness-of-fit), kiểm định độc lập (test of independence) và kiểm định đồng nhất (test of homogeneity) để đo tổng mức độ chênh lệch giữa tần số quan sát và tần số kỳ vọng.
Trong đó
1900 (Pearson); mô tả đầu tiên 1875–1876 (Helmert)Friedrich Robert HelmertKarl PearsonRonald A. FisherPalin Elderton
Câu chuyện bắt đầu từ hai hướng khác nhau. Helmert đến với phân phối này khi tính phân phối mẫu của phương sai mẫu (sample variance) rút từ một tổng thể chuẩn, nên trong tiếng Đức nó từng được gọi là phân phối Helmert. Một phần tư thế kỷ sau, Karl Pearson gặp lại chính phân phối ấy từ một bài toán khác hẳn: ông nghiên cứu di truyền và tiến hóa bằng công cụ toán học, và cần một thước đo xem các phân phối lý thuyết có khớp với dữ liệu ngẫu nhiên trong mô hình của mình hay không. Từ nhu cầu đó ra đời kiểm định mức độ phù hợp (goodness-of-fit test) công bố năm 1900, kèm theo bảng giá trị do Elderton tính và in năm 1902. Ý tưởng về cả một họ phân phối ứng với từng bậc tự do thì lại không phải của Pearson mà là bước phát triển sau này của Fisher trong thập niên 1920.
Vì sao mang đúng cái tên này? Cái tên nghe khó hiểu này thực ra chỉ là một thói quen viết tắt. Khi làm việc với phân phối chuẩn nhiều chiều (multivariate normal distribution), Pearson viết gọn số mũ của hàm mật độ thành , trong đó thay cho biểu thức mà ký hiệu hiện đại ghi là , với là ma trận hiệp phương sai. Nói cách khác, chữ cái Hy Lạp chi bình phương ban đầu chỉ là nhãn dán cho một dạng toàn phương của các độ lệch đã chuẩn hóa, chứ không phải tên riêng của phân phối. Do đại lượng ấy về bản chất là tổng của các bình phương, nó luôn không âm và lệch phải khi bậc tự do nhỏ — hai đặc điểm mà tên gọi "bình phương" đã ngầm báo trước. Vì vậy khi Pearson dùng chính đại lượng này làm thống kê kiểm định, cái nhãn theo luôn sang phân phối của nó và ở lại đến ngày nay.
Kéo bậc tự do lên — nhìn đường cong duỗi thẳng ra, rồi giữ nguyên vạch cắt χ² = 12 mà xem diện tích đuôi đổi hẳn
Kéo tham số, thấy khái niệm chuyển động — mở khoá bằng tài khoản 0đ.
Thống kê chi bình phương không bao giờ âm.
Bậc tự do càng lớn thì đường cong càng bớt lệch phải, chứ không lệch mạnh hơn.
Chi bình phương không cho biết chênh lệch nghiêng về hướng nào.
Đuôi dài của phân phối chi bình phương kéo sang phải, không sang trái.
Đường cong lệch phải rõ nhất chính là đường có bậc tự do nhỏ nhất.
Trước khi tra giá trị tới hạn, viết rõ công thức tính bậc tự do ứng với loại kiểm định.
Kết luận kiểm định chi bình phương chỉ nói có liên hệ, không nói chiều của liên hệ.
Đường cong 1 () là đường lệch phải mạnh hơn, đỉnh nằm sát ; đường cong 2 () cân đối hơn và gần dáng chuẩn. Phát biểu của bạn học sinh sai ở cả hai ý: bậc tự do càng lớn thì độ lệch phải càng giảm chứ không tăng, và thống kê luôn không âm nên không thể dùng dấu của nó để kết luận tần số quan sát thấp hơn hay cao hơn tần số kỳ vọng.
Quiz câu thật từ ngân hàng đề
Vài câu thật gắn đúng khái niệm này, chấm ngay kèm giải thích từng đáp án — hệ thống ghi nhớ bạn nắm tới đâu.
Với , và , ta không bác bỏ giả thuyết không. Dữ liệu từ mẫu 200 viên kẹo không cung cấp bằng chứng thuyết phục cho thấy tỉ lệ màu thực tế khác với tỉ lệ 30% đỏ, 25% xanh dương, 25% xanh lá và 20% vàng mà hãng đã công bố.