AP Chemistry
reaction quotient
Còn gọi: Q · reaction quotient Q · thương số Q · hệ số phản ứng · reaction quotient (Q)

Thương số phản ứng là giá trị tính từ nồng độ các chất tại một thời điểm bất kì, dùng để xác định chiều hướng diễn ra của phản ứng.
Đối với một phản ứng thuận nghịch có dạng , ta cần xác định thương số phản ứng . Biểu thức của được tính bằng công thức giống hệt hằng số cân bằng (keq) . Tuy nhiên, thay vì dùng nồng độ tại trạng thái cân bằng, ta lại dùng nồng độ tại một thời điểm bất kì.
Cụ thể, công thức tính thương số phản ứng được viết như sau: Công thức này cho ta tỉ lệ giữa sản phẩm (product) và chất phản ứng (reactant) ngay tại thời điểm đang xét. Nhờ vào biểu thức toán học này, ta có thể đánh giá trạng thái của hệ bất kể hệ đã ổn định hay chưa.
Vì vậy, việc so sánh với cho phép ta biết hệ đang thiếu sản phẩm hay thừa chất phản ứng. Nếu , tỉ lệ sản phẩm đang quá nhỏ nên phản ứng sẽ tiếp tục xảy ra theo chiều thuận để tạo thêm sản phẩm. Ngược lại, khi , lượng sản phẩm dư thừa sẽ khiến phản ứng dịch chuyển theo chiều nghịch. Chỉ khi , hệ mới thực sự đạt trạng thái cân bằng động và không còn sự thay đổi nồng độ ròng nào nữa.
Do đó, các nhà hóa học thường tính ngay từ lúc trộn các chất ban đầu để biết phản ứng sẽ diễn ra theo hướng nào. Việc nắm rõ giá trị thương số giúp ta điều khiển điều kiện ban đầu (initial conditions) một cách chủ động. Từ đó, ta có thể tối ưu hóa hiệu suất (yield) thu được sản phẩm mong muốn trước khi hệ kịp ổn định.
Trực giác: Hãy tưởng tượng bạn đang rót nước vào một chiếc cốc có vạch mức chuẩn; lượng nước hiện tại so với vạch mức đó cho bạn biết cần rót thêm hay phải đổ bớt đi, và thương số phản ứng chính là lượng nước đang có trong cốc tại thời điểm bạn nhìn vào.
Dùng khi một hệ hóa học chưa ở trạng thái cân bằng và ta cần xác định chiều phản ứng: tính từ nồng độ (hoặc áp suất riêng phần) tại thời điểm đang xét, rồi so sánh với .
Trong đó
Trong phần lớn lịch sử, người ta hình dung phản ứng hóa học như một sự biến đổi một chiều: chất tham gia biến thành sản phẩm rồi câu chuyện kết thúc. Khi khái niệm phản ứng thuận nghịch (reversible reaction) được chấp nhận, cách nhìn đó không còn đủ, vì hệ có thể dừng lại ở một trạng thái mà cả hai chiều vẫn đang chạy với tốc độ bằng nhau. Từ đó nảy sinh nhu cầu đo xem tại một thời điểm bất kỳ, hệ đang ở đâu so với trạng thái cân bằng đó. Thương số phản ứng chính là đại lượng trả lời câu hỏi này: nó được tính bằng đúng biểu thức của hằng số cân bằng (equilibrium constant), nhưng dùng nồng độ hoặc áp suất riêng phần ngay lúc quan sát chứ không đòi hỏi hệ đã cân bằng.
Q nhỏ hơn K thì phản ứng chạy theo chiều thuận, không phải chiều nghịch.
Rất nhiều học sinh nhớ máy móc rồi đảo ngược kết luận trong lúc căng thẳng. Cách chắc chắn là suy luận thay vì học thuộc: khi , tử số của biểu thức (nghĩa là phần sản phẩm) đang quá nhỏ so với lúc cân bằng, nên hệ phải tạo thêm sản phẩm để đưa tỉ số tăng lên bằng . Do đó phản ứng tiến theo chiều thuận (forward direction). Ngược lại, nghĩa là sản phẩm đang dư, hệ tiêu bớt sản phẩm và chạy theo chiều nghịch. Chỉ cần nhớ một câu: Q luôn "đi về phía" K.
Chất rắn và chất lỏng nguyên chất không được đưa vào biểu thức Q.
Đây là lỗi kinh điển ở cân bằng dị thể (heterogeneous equilibrium), chẳng hạn khi đề cho rồi hỏi so sánh Q với K. Học sinh thấy có ba chất nên viết ba số hạng, trong khi biểu thức đúng chỉ còn . Lý do là hoạt độ của pha rắn hay lỏng nguyên chất được quy ước bằng 1, nồng độ của chúng không đổi dù lấy nhiều hay ít. Vì vậy khi lập biểu thức, hãy đọc kỹ trạng thái , , , ghi sau mỗi công thức trước khi đặt bút.
Phải thay nồng độ mol vào Q, không thay số mol.
Đề thường cho "0.30 mol H₂ và 0.15 mol I₂ trong bình 2.0 L", và không ít bài làm thay thẳng 0.30 với 0.15 vào biểu thức. Nếu tổng số mũ ở tử và mẫu không bằng nhau thì việc quên chia cho thể tích sẽ làm sai lệch cả giá trị lẫn kết luận về chiều phản ứng. Nhờ đó cũng cần phân biệt hai dạng: dùng nồng độ, còn dùng áp suất riêng phần (partial pressure) — trộn lẫn hai loại rồi đem so với một hằng số K khác loại là mất trọn điểm.
Q = K không có nghĩa là phản ứng đã dừng lại.
Khi thương số bằng hằng số cân bằng, hệ ở trạng thái cân bằng động: tốc độ thuận và tốc độ nghịch bằng nhau nên nồng độ các chất giữ nguyên, nhưng các phân tử vẫn liên tục chuyển hóa qua lại. Nếu bài yêu cầu giải thích, hãy viết rõ "tốc độ phản ứng thuận bằng tốc độ phản ứng nghịch" chứ đừng viết "phản ứng ngừng". Ngoài ra cũng đừng nhầm K là một đại lượng thay đổi được: thêm chất hay đổi thể tích chỉ làm Q lệch khỏi K, chỉ có thay đổi nhiệt độ mới làm chính K đổi giá trị.
Quiz câu thật từ ngân hàng đề
Vài câu thật gắn đúng khái niệm này, chấm ngay kèm giải thích từng đáp án — hệ thống ghi nhớ bạn nắm tới đâu.
Biên soạn bởi DucklingStudy, bản quyền thuộc DucklingStudy. Xuất bản .
Vì sao mang đúng cái tên này? Tên gọi bắt nguồn từ chính phép toán tạo ra nó. "Quotient" trong tiếng Anh nghĩa là thương của một phép chia, và đại lượng này đúng là một tỉ số: lấy phần sản phẩm chia cho phần chất tham gia, mỗi nồng độ được nâng lên lũy thừa bằng hệ số của nó trong phương trình. Điều đáng chú ý nằm ở chỗ vì sao nó không được gọi là "hằng số". Lý do là giá trị này thay đổi liên tục suốt quá trình phản ứng, chỉ đến khi hệ đạt cân bằng thì mới trùng với . Vì vậy cái tên đã tự nói lên bản chất: một thương số biến thiên, chứ không phải một hằng số cố định của hệ.
Trình bày Q phải đủ ba bước: viết biểu thức, ra số, rồi so sánh với K.
Câu tự luận chấm theo từng bước, nên một đáp án chỉ ghi "phản ứng chạy theo chiều thuận" mà không có con số sẽ không được điểm phần giải thích. Hãy viết biểu thức tổng quát trước, ví dụ , thay số vào, tính ra giá trị, rồi kết bằng một câu so sánh tường minh kiểu "vì nên hệ tạo thêm sản phẩm". Câu chốt đó chính là chỗ giám khảo tìm điểm.
Số mũ trong Q lấy đúng từ hệ số cân bằng của phương trình.
Với , số hạng của hydrogen phải được bình phương; bỏ số mũ 2 là lỗi khiến giá trị Q sai lệch hàng chục lần và kéo theo kết luận sai về chiều. Trước khi thay số, hãy khoanh nhanh các hệ số trong phương trình đã cân bằng và đối chiếu với biểu thức vừa viết. Nếu đề đảo chiều phương trình, nhớ rằng biểu thức mới là nghịch đảo của biểu thức cũ.
Khi đề cho nồng độ ban đầu và hỏi "phản ứng đi theo chiều nào", đó là tín hiệu dùng Q.
Dấu hiệu nhận biết nằm ngay ở bảng số liệu có chữ "initial": các giá trị đó chưa phải nồng độ cân bằng nên không được thay vào K để giải, mà phải thay vào biểu thức cân bằng (equilibrium expression) để tính Q rồi so sánh. Nhiều học sinh vội lập bảng ICE và giải phương trình bậc hai, vừa tốn thời gian vừa lạc đề. Đọc kỹ động từ của câu hỏi: "predict the direction" chỉ cần một phép chia và một câu so sánh.
Hỗn hợp ban đầu có , nhỏ hơn , nên phản ứng tiến theo chiều thuận và tạo thêm cho tới khi tăng bằng . Nếu muốn hệ đã cân bằng ngay với và thì nồng độ phải là . Vì , giá trị của chiều thuận mang dấu âm tại thời điểm ban đầu.
Ở thí nghiệm đầu, sau khi pha loãng ta có , nên kết tủa cho tới khi tích nồng độ ion giảm về đúng giá trị . Khi thay bằng dung dịch bạc loãng hơn một trăm lần, chỉ còn , nhỏ hơn , nên dung dịch vẫn trong suốt và không có kết tủa nào hình thành.