AP Statistics
two-sided alternative

Đối thuyết hai phía là giả thuyết cho rằng tham số tổng thể khác giá trị giả thuyết ban đầu, có thể theo cả hai hướng lớn hơn hoặc nhỏ hơn.
Khi kiểm định một giả thuyết thống kê, nhà nghiên cứu cần xác định hướng của sai khác mà họ quan tâm. Nếu câu hỏi nghiên cứu chỉ hỏi "có khác không" thay vì "lớn hơn hay nhỏ hơn", ta dùng đối thuyết hai phía (two-sided alternative). Giả thuyết này phát biểu rằng tham số tổng thể khác giá trị được nêu trong giả thuyết không, bất kể sai khác đó theo hướng nào.
Về mặt ký hiệu, nếu giả thuyết không là hoặc , thì đối thuyết hai phía được viết là hoặc . Do đó, giá trị p (p-value) trong kiểm định hai phía được tính bằng tổng xác suất ở cả hai đuôi của phân phối mẫu, phản ánh khả năng quan sát được thống kê kiểm định cực đoan theo bất kỳ hướng nào. Vì vậy, khi phân phối mẫu đối xứng, giá trị p của kiểm định hai phía thường gấp đôi giá trị p của kiểm định một phía tương ứng.
Nhờ đó, kiểm định hai phía thận trọng hơn kiểm định một phía vì nó yêu cầu bằng chứng mạnh hơn để bác bỏ giả thuyết không. Tuy nhiên, sự thận trọng này đi kèm với việc giảm năng lực kiểm định, nghĩa là khả năng phát hiện sai khác thực sự khi nó tồn tại. Ngược lại, kiểm định một phía chỉ phù hợp khi nhà nghiên cứu có lý do rõ ràng để quan tâm đến một hướng sai khác duy nhất trước khi thu thập dữ liệu.
Trực giác: Giống như khi bạn nghi ngờ đồng xu không cân bằng, bạn không biết nó sẽ ngửa nhiều hơn hay sấp nhiều hơn, chỉ biết nó không công bằng.
Dùng khi muốn phát hiện sai khác theo cả hai hướng — tham số có thể lớn hơn hoặc nhỏ hơn giá trị giả định, không chỉ một chiều.
Trong đó
Dùng khi kiểm định hai phía với phân phối kiểm định đối xứng (z hoặc t). Giá trị p là tổng xác suất hai đuôi; nếu p nhỏ hơn mức ý nghĩa α, ta bác bỏ thuyết không.
Jerzy NeymanEgon Pearson
Trong cách làm của Ronald Fisher, người kiểm định chỉ hỏi một câu duy nhất: dữ liệu quan sát được có thể sinh ra do ngẫu nhiên hay không nếu giả thuyết không đúng, mà không cần hình dung trước một mô hình cạnh tranh nào. Neyman và Pearson thấy cách đặt vấn đề đó chưa đủ để chọn giữa hai lối hành động, nên họ bổ sung một phát biểu đối lập rõ ràng và xây dựng bổ đề Neyman–Pearson (Neyman–Pearson lemma) trên nền đó. Fisher phản đối việc dùng nó, nhưng chính nhờ giả thuyết đối mà người ta phân biệt được kiểm định một phía với kiểm định hai phía, và biết miền bác bỏ nên đặt ở đâu.
Không được chọn chiều của đối thuyết sau khi đã nhìn dữ liệu.
Nếu thấy trung bình mẫu lớn hơn giá trị trong giả thuyết không rồi mới viết dấu ">", bài làm đã dùng dữ liệu hai lần và giá trị p (p-value) thu được nhỏ giả tạo. Chiều của đối thuyết phải xuất phát từ câu hỏi nghiên cứu, viết ra trước khi tính toán. Vì vậy khi đề chỉ hỏi "có khác không", "có thay đổi không", câu trả lời an toàn là dùng dấu .
Giá trị p của kiểm định hai phía gấp đôi giá trị p một phía.
Máy tính và bảng tra thường trả về diện tích chỉ một đuôi, nên nếu chép thẳng con số đó vào bài thì kết luận sẽ nghiêng về bác bỏ nhiều hơn mức đáng có. Với đối thuyết , ta cộng cả hai đuôi: . Nghĩa là mọi giá trị lệch xa giá trị giả định bằng khoảng đó, dù lệch lên hay lệch xuống, đều được tính là bằng chứng chống lại giả thuyết không.
Giả thuyết không luôn viết bằng dấu bằng, kể cả khi đối thuyết hai phía.
Nhiều bài viết hoặc rồi mất điểm ngay ở bước đầu. Giả thuyết không phải là một giá trị cụ thể thì mới dựng được phân bố mẫu để tính xác suất, nên cặp chuẩn là và . Ngoài ra, ký hiệu trong hai giả thuyết luôn là tham số của tổng thể, tuyệt đối không phải hay .
Bác bỏ giả thuyết không ở kiểm định hai phía chưa nói được chiều lệch.
Kết luận đúng chỉ mới là "có bằng chứng cho thấy tham số khác giá trị đã nêu". Muốn nói thêm rằng nó lớn hơn hay nhỏ hơn, phải căn cứ vào dấu của thống kê kiểm định hoặc vị trí của khoảng tin cậy (confidence interval), và nên nói rõ căn cứ ấy trong bài.
Quiz câu thật từ ngân hàng đề
Vài câu thật gắn đúng khái niệm này, chấm ngay kèm giải thích từng đáp án — hệ thống ghi nhớ bạn nắm tới đâu.
Biên soạn bởi DucklingStudy, bản quyền thuộc DucklingStudy. Xuất bản .
Trong đó
Vì sao mang đúng cái tên này? Tên gọi "hai phía" đến từ hình dạng của miền bác bỏ: trong khi đối thuyết một phía chỉ quan tâm tới một đuôi của phân phối mẫu, đối thuyết hai phía cắt cả hai đuôi, nên còn được gọi là kiểm định hai đuôi (two-tailed test). Cách gọi này cũng phản ánh một đặc điểm hình thức: phát biểu hai phía không bị chặn trên cũng không bị chặn trước, trái với phát biểu một phía luôn bị chặn về một hướng. Vì nó không chỉ rõ tham số lệch về bên nào, tài liệu tiếng Anh còn đặt cho nó cái tên giả thuyết không định hướng (nondirectional hypothesis); trên bảng kết quả phần mềm, nó hiện ra dưới dạng ký hiệu , tức là hiệu hai trung bình khác 0 mà không nói khác theo chiều nào.
Nguồn đối chiếu
Đổi dạng đối thuyết rồi kéo thống kê qua lại — nhìn vùng đuôi nhảy chỗ
Kéo tham số, thấy khái niệm chuyển động — mở khoá bằng tài khoản 0đ.
Viết cả hai giả thuyết bằng ký hiệu kèm một câu định nghĩa tham số bằng lời.
Câu định nghĩa như " là thời gian trung bình của tất cả học sinh trong trường" là phần giám khảo tìm để cho điểm bước một. Ghi luôn mức ý nghĩa (significance level) ngay dòng đó nếu đề có nêu; nếu đề không nêu thì tự đặt và nói ra.
Khoảng tin cậy 95% chỉ tương đương kiểm định hai phía ở mức .
Khi đề yêu cầu dùng khoảng để trả lời câu hỏi "có khác không", hãy kiểm tra giá trị trong giả thuyết không có nằm trong khoảng hay không, rồi diễn giải theo ngữ cảnh. Đừng lấy khoảng tin cậy để kết luận cho một đối thuyết một phía (one-sided alternative), vì mức tương ứng khi đó không còn là 0,05.
Kết luận phải gồm ba phần: so sánh với , quyết định, và câu ngữ cảnh.
Chẳng hạn: "Vì nên bác bỏ ; có bằng chứng cho thấy tỉ lệ hộp bị lỗi khác 10%." Chỉ ghi "bác bỏ " rồi dừng lại là mất điểm phần kết luận, còn viết "chứng minh được đúng" thì sai về bản chất của kiểm định.
Cặp giả thuyết là và , hai phía vì cả rót thiếu lẫn rót thừa đều là sai lệch cần phát hiện. Với , và , ta bác bỏ giả thuyết không: có bằng chứng thuyết phục rằng thể tích trung bình thật của chai khác 500 ml. Khoảng tin cậy 95% là không chứa 500 ml, xác nhận lại cùng một kết luận.
Với và giá trị p hai phía , ta không bác bỏ giả thuyết không: chưa đủ bằng chứng thuyết phục để kết luận hai phương pháp dạy cho tỉ lệ đạt yêu cầu khác nhau. Không được đổi sang đối thuyết một phía sau khi đã thấy nhóm A trội hơn, vì việc chọn hướng dựa trên dữ liệu làm mức ý nghĩa thực tế phình lên gấp đôi và kết luận mất giá trị.