AP Chemistry
nucleus
Còn gọi: hạt nhân · atomic nucleus · nuclei · nhân nguyên tử

Hạt nhân nguyên tử là phần trung tâm rất nhỏ và cực kỳ đặc của nguyên tử, mang điện tích dương và chứa proton cùng neutron.
Nguyên tử không phải là một khối vật chất đồng nhất, bởi gần như toàn bộ khối lượng của nó dồn vào một vùng trung tâm nhỏ đến mức khó hình dung, gọi là hạt nhân nguyên tử. Vùng này chứa các hạt prôtôn mang điện dương và các hạt nơtron trung hòa về điện, còn các êlectron thì chuyển động trong khoảng không gian rộng lớn bao quanh. Đường kính nguyên tử vào cỡ pm trong khi đường kính hạt nhân chỉ cỡ pm, nghĩa là hạt nhân nhỏ hơn nguyên tử khoảng mười nghìn lần về chiều dài, do đó phần lớn thể tích nguyên tử thực chất là không gian trống.
Chính từ thực tế đó, kết luận về hạt nhân đã đến từ thí nghiệm bắn phá lá vàng mỏng bằng hạt alpha. Hầu hết các hạt đi xuyên qua gần như không lệch hướng, chứng tỏ vật chất bên trong nguyên tử phân bố rất thưa; ngược lại, một tỉ lệ rất nhỏ lại bị bật ngược trở lại, điều chỉ xảy ra khi chúng va vào một tâm vừa đặc vừa mang điện dương mạnh. Vì vậy mô hình "khối cầu tích điện đều" bị bác bỏ và mô hình hạt nhân ra đời, mà về sau prôtôn và nơtron lần lượt được xác nhận là hai thành phần cấu tạo nên nó.
Trên cơ sở mô hình hạt nhân ấy, hai con số mô tả một hạt nhân là số prôtôn và tổng số prôtôn cộng nơtron , viết gọn thành ; trong đó quyết định nguyên tố (element) còn hiệu cho số nơtron. Các nguyên tử cùng nhưng khác là đồng vị (isotope) của nhau, nên chúng giống hệt nhau về tính chất hóa học (chemical properties) mà chỉ khác về khối lượng. Bên cạnh đó, điện tích của hạt nhân chính là nguồn lực hút giữ các êlectron lại; sau khi trừ đi phần bị các êlectron bên trong chắn bớt, nó trở thành điện tích hạt nhân hiệu dụng (effective nuclear charge) — đại lượng giải thích mọi xu hướng tuần hoàn mà đề thi hay hỏi.
Trực giác: Nếu phóng to nguyên tử bằng sân vận động thì hạt nhân chỉ bằng hạt đậu đặt giữa sân, nhưng hạt đậu đó nặng gần bằng cả sân.
Dùng khi cần tính số khối của một hạt nhân, hoặc khi đã biết số khối và số proton để suy ra số neutron — hai bước cơ bản khi làm bài tập về đồng vị.
Trong đó
1912Michael FaradayErnest RutherfordGilbert N. Lewis
Đầu thế kỷ 20, câu hỏi lớn là khối lượng và điện tích dương của nguyên tử nằm ở đâu. Các thí nghiệm bắn hạt vào lá kim loại mỏng cho thấy phần lớn hạt đi xuyên qua, nhưng một số ít lại bật ngược trở lại, điều chỉ giải thích được nếu điện tích dương tập trung trong một vùng cực nhỏ ở giữa. Từ quan sát đó, năm 1912 Rutherford đề xuất nghĩa hiện đại của từ "nucleus". Tuy nhiên giới hóa học không đổi cách nói ngay: đến năm 1916, trong bài báo nổi tiếng "The Atom and the Molecule", Gilbert N. Lewis vẫn mô tả nguyên tử gồm phần nhân và một lớp electron bên ngoài.
Hạt beta không phải electron bứt ra từ lớp vỏ nguyên tử.
Trong phân rã beta (beta decay), electron được sinh ra ngay tại hạt nhân khi một neutron chuyển hóa thành một proton kèm một electron, theo . Chính vì vậy số proton tăng một đơn vị còn số khối (mass number) giữ nguyên, và nguyên tố biến thành nguyên tố khác. Nếu trả lời rằng hạt beta đến từ lớp electron ngoài cùng thì mất trọn điểm của ý này, dù phương trình phía trên có cân bằng đúng.
Phương trình hạt nhân phải cân bằng cả số khối lẫn điện tích, không cân bằng nguyên tố.
Khác với phản ứng hóa học nơi mỗi loại nguyên tử được bảo toàn, ở đây nguyên tố có thể biến đổi, chỉ tổng chỉ số trên và tổng chỉ số dưới ở hai vế là bất biến. Với I-131 ta viết : vế trái có và , vế phải có và . Do đó cách kiểm tra nhanh nhất trong phòng thi là cộng dọc hai hàng chỉ số trước khi nộp bài.
Chu kì bán rã không thay đổi khi đổi nhiệt độ, nồng độ hay dạng hợp chất.
Tốc độ phân rã chỉ phụ thuộc bản chất của hạt nhân, còn nhiệt độ và chất xúc tác chỉ tác động lên electron hóa trị nên không chạm tới được. Vì vậy nếu đề cho đồ thị hoạt độ phóng xạ giảm dần theo thời gian, chu kì bán rã (half-life) đọc được ở đoạn đầu và đoạn cuối phải bằng nhau; đó cũng là dấu hiệu nhận biết phân rã tuân theo động học bậc một. Tuyệt đối không viết rằng đun nóng mẫu sẽ làm I-131 phân rã nhanh hơn.
Điện tích hạt nhân hiệu dụng không bằng số proton trong hạt nhân.
Các electron ở lớp bên trong chắn bớt lực hút của hạt nhân, nên electron ngoài cùng chỉ cảm nhận được điện tích hạt nhân hiệu dụng (effective nuclear charge) nhỏ hơn tổng số proton. Đây là lý do bán kính nguyên tử giảm dần khi đi từ trái sang phải trong một chu kì: số proton tăng nhưng hiệu ứng che chắn (shielding) gần như không đổi vì các electron mới thêm vào cùng một lớp. Ngược lại, khi xuống dưới một nhóm, lớp electron mới ở xa hơn và bị che chắn mạnh hơn, nên nguyên tử to ra dù hạt nhân nặng hơn nhiều.
Quiz câu thật từ ngân hàng đề
Vài câu thật gắn đúng khái niệm này, chấm ngay kèm giải thích từng đáp án — hệ thống ghi nhớ bạn nắm tới đâu.
Biên soạn bởi DucklingStudy, bản quyền thuộc DucklingStudy. Xuất bản .
Vì sao mang đúng cái tên này? Từ tiếng Latin nucleus là dạng thu nhỏ của nux nghĩa là "quả hạch", nên nó chỉ cái nhân (kernel) nằm trong phần thịt mọng của một quả như quả đào. Cách gọi này thuần túy mô tả vị trí: cái gì nằm chính giữa và cứng chắc thì gọi là nhân. Vì vậy khi Faraday cần một chữ cho "điểm trung tâm của nguyên tử" vào năm 1844, ông mượn luôn hình ảnh quả hạch, và Rutherford giữ nguyên chữ ấy cho vùng mang điện dương ở giữa nguyên tử. Dấu vết của lối nghĩ này còn rõ trong tiếng Đức và tiếng Hà Lan, nơi hạt nhân được gọi là kern — cũng chính là "cái nhân". Chính vì thế, năm 1916 Lewis vẫn viết rằng nguyên tử gồm phần nhân và một lớp electron (shell) bao ngoài, thay vì dùng chữ "nucleus". Về sau, các khái niệm phái sinh như spin hạt nhân (nuclear spin) do Wolfgang Pauli đưa ra để giải thích cấu trúc siêu tinh tế của vạch phổ đều tiếp tục xây trên cái tên gốc mộc mạc đó.
Thêm một neutron rồi thêm một proton — xem cái nào làm đổi tên nguyên tố
Kéo tham số, thấy khái niệm chuyển động — mở khoá bằng tài khoản 0đ.
Khi được hỏi nguồn gốc hạt beta, phải viết ra phương trình chuyển hóa của neutron.
Giám khảo tìm đúng ý rằng một neutron trong hạt nhân biến thành một proton ở lại và một electron bay ra; câu trả lời chung chung kiểu "electron thoát khỏi nguyên tử" không được chấm điểm. Chỉ cần thêm một dòng là ý đã rõ ràng và trọn vẹn.
Mọi giải thích về xu hướng tuần hoàn phải nhắc đồng thời điện tích hạt nhân và khoảng cách.
Lực hút giữa hạt nhân và electron tuân theo định luật Coulomb, tỉ lệ thuận với tích điện tích và tỉ lệ nghịch với bình phương khoảng cách, nên một lời giải chỉ nói "nhiều proton hơn" mà bỏ quên lớp electron thường bị trừ điểm. Vì vậy hãy tập thói quen viết đủ ba mảnh: số proton, số lớp electron, và mức độ che chắn của các lớp bên trong.
Đọc chu kì bán rã từ đồ thị bằng cách lấy nhiều cặp điểm, đừng đoán bằng mắt.
Chọn một giá trị hoạt độ ban đầu dễ chia đôi, gióng xuống trục thời gian, rồi lặp lại với nửa giá trị đó để kiểm chứng khoảng thời gian thu được có lặp lại hay không. Bài làm cần ghi rõ hai cặp số đã dùng kèm đơn vị thời gian, vì phần điểm ở đây dành cho quy trình chứ không chỉ cho con số cuối cùng.
Mẫu I-131 phân rã theo , trong đó hạt beta sinh ra từ sự biến đổi một neutron trong hạt nhân thành một proton và một electron chứ không phải từ lớp vỏ electron. Chu kì bán rã đọc được từ số liệu là 8 ngày, nên sau 40 ngày (5 chu kì) độ phóng xạ còn . Dù chuyển sang dạng hóa học nào thì con số này cũng không đổi, bởi phân rã là chuyện riêng của hạt nhân.
Kết quả thí nghiệm chỉ có thể giải thích nếu nguyên tử vàng gồm một hạt nhân cực nhỏ, mang điện tích dương lớn và chứa hầu hết khối lượng, nằm giữa một vùng không gian gần như trống rỗng của các electron. Phép tính xác nhận điều đó: hạt nhân chiếm khoảng thể tích nguyên tử, ứng với xác suất va chạm cỡ một phần tỉ. Thay vàng bằng nhôm sẽ làm lực đẩy yếu đi vì điện tích hạt nhân nhỏ hơn nhiều, nên các hạt alpha bị lệch ít hơn hẳn.