AP Chemistry
molar mass
Còn gọi: M · khối lượng phân tử mol

Khối lượng mol là khối lượng của một mol chất, tính bằng gam trên mol, có trị số bằng khối lượng công thức đo theo đơn vị khối lượng nguyên tử.
Cân trong phòng thí nghiệm chỉ đọc được gam, còn phương trình hóa học lại đếm theo số hạt. Khối lượng mol chính là chiếc cầu nối hai thế giới đó: nó cho biết một mol chất — tức hạt theo số Avogadro (Avogadro's number) — nặng bao nhiêu gam. Giá trị này lấy trực tiếp từ khối lượng nguyên tử trung bình (average atomic mass) ghi trong bảng tuần hoàn, chỉ đổi đơn vị từ amu sang g/mol mà giữ nguyên con số. Nhờ đó, một nguyên tử cacbon nặng amu thì một mol cacbon nặng g.
Với hợp chất, ta cộng khối lượng của mọi nguyên tử có mặt trong công thức, và tổng đó cũng chính là khối lượng công thức (formula weight) đọc theo g/mol. Chẳng hạn có g/mol. Quan hệ trung tâm cần thuộc là
trong đó là khối lượng mẫu tính bằng gam, là khối lượng mol và là số mol. Công thức này nói rằng chia khối lượng cân được cho khối lượng của mỗi mol thì ra số mol đang có trong tay.
Vì vậy hầu như mọi bài toán định lượng đều đi qua bước này: từ gam đổi sang mol, dùng hệ số phương trình để chuyển sang chất khác, rồi đổi ngược về gam. Khối lượng mol còn giúp xác định chất chưa biết, chẳng hạn từ khối lượng riêng của khí qua , hoặc từ độ hạ băng điểm trong nhóm tính chất tập hợp (colligative properties). Tuy nhiên, cần phân biệt rõ khối lượng mol của công thức thực nghiệm với của công thức phân tử: tỉ số giữa hai giá trị đó cho biết phải nhân chỉ số lên bao nhiêu lần mới ra công thức đúng của phân tử.
Trực giác: Giống như biết một tá trứng nặng bao nhiêu gam, bạn cân rổ trứng rồi chia ra là biết có mấy tá mà không phải đếm từng quả.
Dùng để tính khối lượng mol khi biết khối lượng và số mol của một chất; cũng là công thức trung tâm để đổi giữa khối lượng (g) và số mol (mol) trong mọi bài toán stoichiometry.
Trong đó
Dùng để tính khối lượng mol của một hợp chất khi biết công thức hóa học, bằng cách cộng khối lượng mol của từng nguyên tố nhân với số nguyên tử tương ứng trong công thức.
1894–1897 (đơn vị mol); nền tảng từ đầu thế kỷ 19Wilhelm OstwaldWilhelm HofmannJohn DaltonAmedeo AvogadroJöns Jacob Berzelius
Quên đổi gam sang mol trước khi nhân với đại lượng tính theo mol.
Đây là lỗi phổ biến nhất trong các bài nhiệt hoá học: đề cho nước và nhiệt hoá hơi (enthalpy of vaporization) , nhiều bạn lấy thẳng và ra một con số lớn vô lý. Mọi hằng số có đuôi "per mole" chỉ ăn khớp với số mol, nên bước bắt buộc là rồi mới . Khối lượng mol chính là chiếc cầu bắt buộc giữa cân (gam) và phương trình hoá học (mol); bỏ cầu thì đáp án sai ngay từ dòng đầu.
Khối lượng mol không phải khối lượng của một phân tử.
Số của nước xuất hiện ở hai nơi với hai ý nghĩa khác nhau: là khối lượng của một phân tử tính theo đơn vị khối lượng nguyên tử (atomic mass unit), còn là khối lượng của phân tử. Chúng trùng nhau về trị số nhưng khác nhau về đơn vị và khác nhau tới hơn hai mươi bậc về độ lớn. Vì vậy khi đề hỏi khối lượng của một phân tử, bạn phải chia khối lượng mol cho hằng số Avogadro chứ không được trả lời .
Nhân khi lẽ ra phải chia, vì không nhìn đơn vị.
Quan hệ duy nhất cần nhớ là , kéo theo ; nếu bạn viết đơn vị ra bên cạnh thì tự triệt tiêu và cho , còn phép nhân sẽ cho vô nghĩa. Thói quen phân tích thứ nguyên (dimensional analysis) này gần như miễn phí mà chặn được cả một họ lỗi tính toán. Một dấu hiệu cảnh báo khác là độ lớn: với chất có khối lượng mol vài chục, số mol thường nhỏ hơn số gam, nên kết quả kiểu " nước ứng với mol" chắc chắn sai.
Tính khối lượng mol cho sai chất so với chất đề hỏi.
Trong bài chuẩn độ bạc, khối lượng mol của () khác hẳn khối lượng mol nguyên tử của (), nên dùng nhầm sẽ làm lệch nồng độ ngay cả khi các bước sau đều đúng. Tương tự, muối ngậm nước (hydrate) như phải cộng cả phần nước kết tinh vào, và chỉ số dưới phải nhân cho đủ: có hai nitơ và sáu oxi chứ không phải một và ba. Do đó trước khi bấm máy, hãy khoanh tròn công thức của đúng chất mà câu hỏi đang nói tới.
Quiz câu thật từ ngân hàng đề
Vài câu thật gắn đúng khái niệm này, chấm ngay kèm giải thích từng đáp án — hệ thống ghi nhớ bạn nắm tới đâu.
Biên soạn bởi DucklingStudy, bản quyền thuộc DucklingStudy. Xuất bản .
Trong đó
Suốt thế kỷ 19, các nhà hóa học vướng một khó khăn rất thực tế: cân được khối lượng chất trong bình vẫn chưa đủ để biết phản ứng sẽ diễn ra theo tỉ lệ nào. Định luật tỉ lệ xác định của Proust (1794) và định luật áp suất riêng phần của Dalton (1803) cho thấy lượng chất mang một thông tin mà riêng phép cân không cung cấp được. Năm 1805, John Dalton công bố bảng khối lượng nguyên tử tương đối đầu tiên, lấy hydrogen làm mốc bằng 1; Jöns Jacob Berzelius sau đó tinh chỉnh các giá trị này và là người đầu tiên dùng oxygen làm chuẩn so sánh. Định luật Avogadro (1811) nối thể tích khí với số phân tử, mở đường cho ý tưởng một lượng chất ứng với một số hạt xác định. Từ nền đó, khối lượng mol trở thành cây cầu giữa thang đo cân được trong phòng thí nghiệm và thế giới hạt không đếm trực tiếp được.
Vì sao mang đúng cái tên này? Tính từ "molar" trong "molar mass" không liên quan gì tới răng hàm, mà bắt nguồn từ chữ Latin moles nghĩa là "khối lớn" — đúng tinh thần của đại lượng này, vì nó mô tả khối lượng ở quy mô vĩ mô cân được, chứ không phải khối lượng của một hạt riêng lẻ. Hofmann đưa từ này vào hóa học khoảng năm 1865, và về sau Ostwald dựng nên đơn vị "Mol" từ tiếng Đức Molekül (phân tử) vào năm 1894, ban đầu dùng theo nghĩa khối lượng phân tử; bản dịch sang tiếng Anh năm 1897 cho ta chữ "mole". Vì vậy tên gọi hôm nay chồng lên nhau hai lớp nghĩa: gốc Latin chỉ "khối lớn" và gốc Đức chỉ "phân tử", giải thích vì sao khối lượng mol lại đo bằng gam trên một mol hạt. Cũng cần lưu ý khái niệm khối lượng đương lượng (equivalent mass) đã được dùng sớm hơn cả thế kỷ, và suốt thế kỷ 19 người ta thường lẫn lộn nó với khối lượng nguyên tử tương đối.
Nguồn đối chiếu
Ở câu tự luận, viết hẳn dòng đổi mol ra giấy thì mới được điểm quy trình.
Đề nêu rõ rằng bạn phải trình bày phương pháp và các bước; giám khảo chấm theo từng bước nên một dòng có thay số đầy đủ thường được tính điểm riêng, kể cả khi con số cuối bị sai. Ngược lại, đáp án đúng mà không có lời giải thì có thể mất phần lớn điểm. Hãy tập thói quen viết ba dòng: công thức bằng ký hiệu, thay số kèm đơn vị, rồi kết quả kèm đơn vị.
Lấy khối lượng mol từ bảng tuần hoàn trong đề, đừng nhớ theo trí nhớ.
Bảng tuần hoàn và bảng hằng số luôn được phát kèm, nên không có lý do gì để dùng số áng chừng; sai một chữ số ở khối lượng nguyên tử sẽ kéo theo sai toàn bộ chuỗi tính. Khi cộng, hãy nhân chỉ số dưới trước rồi mới cộng, và giữ ít nhất một chữ số có nghĩa (significant figures) dư trong các bước trung gian, chỉ làm tròn ở kết quả cuối cùng theo dữ kiện kém chính xác nhất.
Kiểm tra dấu và ý nghĩa vật lý sau khi đã ra con số.
Bài toán khối lượng mol thường gắn với nhiệt lượng, và một đáp án đúng độ lớn vẫn có thể sai dấu: bay hơi là quá trình hệ hấp thụ năng lượng nên , còn ngưng tụ thì . Vì vậy sau khi tính xong, hãy đọc lại câu hỏi một lần nữa và tự hỏi chất đang nhận hay nhả năng lượng trước khi tô đáp án.
Trong nước có , và quá trình hóa hơi hoàn toàn lượng nước này ở cần hấp thụ . Đây là một quá trình thu nhiệt, và khối lượng mol là mắt xích bắt buộc để chuyển dữ kiện cân đo (gam) thành đại lượng mà phương trình nhiệt hóa học sử dụng (mol).
Hợp chất khí có khối lượng mol khoảng và công thức phân tử là . Ví dụ này cho thấy công thức thực nghiệm chỉ cho tỉ lệ nguyên tử, còn muốn biết số nguyên tử thật trong một phân tử thì bắt buộc phải có thêm một phép đo khối lượng mol độc lập.