AP Statistics
sample
Còn gọi: tập con của tổng thể · mẫu thống kê · mẫu (sample)

Mẫu là một tập hợp con được chọn ra từ tổng thể, dùng để thu thập dữ liệu và suy ra thông tin về toàn bộ nhóm lớn hơn mà không cần khảo sát từng cá thể.
Trong thực tế, tổng thể thường quá lớn để quan sát đầy đủ, vì vậy nhà thống kê chọn ra một mẫu — tức một tập hợp con của tổng thể — để tiến hành đo lường. Mục tiêu cốt lõi là dùng các đặc trưng tính được từ mẫu, chẳng hạn trung bình mẫu hay tỉ lệ mẫu , để ước lượng tham số tương ứng của tổng thể.
Chất lượng của mẫu phụ thuộc trực tiếp vào cách chọn. Khi mỗi tập con có cùng cỡ đều có xác suất bằng nhau để được chọn, ta gọi đó là mẫu ngẫu nhiên đơn giản (simple random sample). Nhờ tính ngẫu nhiên, mẫu có xu hướng đại diện cho tổng thể và giảm thiểu sai lệch hệ thống (bias). Ngược lại, một mẫu được chọn không ngẫu nhiên — chẳng hạn chỉ hỏi những người tình nguyện — thường mang sai lệch và khiến kết quả suy luận không còn đáng tin.
Cỡ mẫu, ký hiệu , ảnh hưởng trực tiếp đến độ chính xác của ước lượng. Sai số chuẩn của trung bình mẫu bằng , trong đó là độ lệch chuẩn (standard deviation) của tổng thể; do đó khi tăng, sai số chuẩn giảm và ước lượng trở nên chính xác hơn. Tuy nhiên, tăng cỡ mẫu không thể bù đắp cho một phương pháp chọn mẫu có sai lệch — một mẫu lớn mà thiên lệch vẫn cho kết quả sai lệch.
Trực giác: Mẫu giống như một thìa súp múc lên để nếm thử — nếu khuấy đều trước khi múc, thìa đó phản ánh đúng hương vị cả nồi; nếu không khuấy, thìa múc chỗ nào cũng chỉ cho biết chỗ đó.
1903Karl PearsonW. F. R. WeldonAnders Nicolai KiærArthur Lyon Bowley
Mẫu lớn không chữa được mẫu chệch.
Khi phóng viên chỉ hỏi những học sinh bước ra khỏi căng tin, dù có tung đồng xu để chọn ngẫu nhiên thì nhóm được hỏi vẫn chỉ gồm người ăn ở căng tin. Những em không ăn ở đó — nhiều khả năng là những em không hài lòng nhất — không bao giờ có cơ hội lọt vào mẫu. Do đó kết quả chỉ khái quát được cho học sinh ăn căng tin, và tăng số người được hỏi cũng không xóa được sai lệch này.
Khoảng tin cậy nói về tổng thể, không nói về mẫu.
Tỉ lệ trong mẫu đã biết chính xác rồi, nên chẳng cần ước lượng nó làm gì; cái ta chưa biết là tham số (parameter) của toàn bộ tổng thể. Vì vậy câu kết luận phải viết "tỉ lệ tất cả cư dân trong thị trấn ủng hộ đề xuất", chứ không phải "tỉ lệ trong 150 người được hỏi". Đổi chữ "tất cả" thành "những người được khảo sát" là mất điểm diễn giải.
Trong kiểm định tỉ lệ, mẫu số dùng chứ không dùng .
Với mẫu 150 người Norway và giả thuyết so sánh với 36 phần trăm, độ lệch chuẩn của thống kê là . Lý do là khi kiểm định, ta tạm coi giả thuyết không đúng, nên mọi thứ trong phân phối mẫu phải tính theo giá trị giả định. Ngược lại, khi làm khoảng tin cậy thì không có giá trị giả định nào cả, lúc đó mới thay bằng từ dữ liệu.
Vài giá trị ngoại lai (outlier) trong mẫu chưa đủ để bác bỏ điều kiện chuẩn.
Điều kiện của suy luận nói về phân phối của thống kê mẫu (statistic), không nói về hình dạng của dữ liệu thô. Với hai mẫu cỡ 40 và 33, định lý giới hạn trung tâm (central limit theorem) đã đảm bảo phân phối của hiệu hai trung bình mẫu xấp xỉ chuẩn. Tuy nhiên nếu cỡ mẫu nhỏ hơn 30 mà biểu đồ hộp lệch mạnh thì lập luận này không còn dùng được.
Quiz câu thật từ ngân hàng đề
Vài câu thật gắn đúng khái niệm này, chấm ngay kèm giải thích từng đáp án — hệ thống ghi nhớ bạn nắm tới đâu.
Biên soạn bởi DucklingStudy, bản quyền thuộc DucklingStudy. Xuất bản .
Cuối thế kỷ 19, các nhà nghiên cứu ngày càng phải làm việc với những tập dữ liệu chỉ là một phần nhỏ của cái mà họ thật sự muốn biết. Weldon đo đạc trên các nhóm sinh vật và gọi mỗi nhóm quan trắc như vậy là một "sample". Đến năm 1903, Pearson viết rõ ý tưởng cốt lõi: nếu lấy được toàn bộ tổng thể (population) thì ta sẽ có những hằng số thống kê xác định, nhưng trên thực tế ta chỉ có thể lấy một mẫu. Cùng thời gian đó, nhu cầu điều tra xã hội đã thúc đẩy kỹ thuật lấy mẫu: Anders Nicolai Kiær đưa ra ý tưởng lấy mẫu phân tầng (stratified sampling) năm 1895, và Arthur Lyon Bowley đưa kỹ thuật lấy mẫu ngẫu nhiên vào các khảo sát đời sống ở London từ năm 1906.
Vì sao mang đúng cái tên này? Điểm đáng chú ý là chữ "sample" vốn là một từ đời thường, nghĩa là mẩu hàng đem ra thử, chứ không phải một thuật ngữ kỹ thuật được đặt ra riêng cho ngành. Chính vì vậy nó chỉ có nghĩa thống kê khi được đặt cạnh một từ đối lập: Pearson dùng nó trong thế đối lập với tổng thể, và chính sự đối lập ấy sinh ra ý niệm rằng phần nhỏ ta cầm trong tay chỉ là hình bóng của cái toàn thể ta không với tới được. Các tên gọi phái sinh về sau đều mô tả cách lấy phần nhỏ đó: mẫu ngẫu nhiên (random sample) nhấn vào cơ chế chọn, còn mẫu phân tầng nhấn vào việc chia tổng thể thành các tầng trước khi chọn.
Đổi cách nhặt mẫu — nhìn con số trong khay lệch hay sát sự thật
Kéo tham số, thấy khái niệm chuyển động — mở khoá bằng tài khoản 0đ.
Viết rõ ký hiệu mẫu và ký hiệu tổng thể ngay từ dòng đầu bài làm.
Dùng , , cho số liệu tính từ mẫu và , , cho tổng thể. Giám khảo chấm phần "đặt giả thuyết" dựa đúng vào chỗ này: viết là sai ngay, vì giả thuyết luôn nói về tổng thể.
Kiểm tra điều kiện phải nêu cả cách lấy mẫu lẫn cỡ mẫu, kèm con số cụ thể.
Câu "mẫu ngẫu nhiên đã cho trong đề" cộng với "" hoặc " và " mới được tính là đủ. Nếu mẫu không ngẫu nhiên, phải nói thẳng rằng kết luận không khái quát được cho tổng thể.
Khi đề hỏi một nhận định có được dữ liệu ủng hộ hay không, hãy trích số ra để so sánh.
Chẳng hạn 44 người chọn mẫu có màu đen trong khi 56 người chọn mẫu có màu xanh, nên nhận định không được ủng hộ. Trả lời "không, vì mẫu quá nhỏ" mà không dẫn số nào thì bị coi là không dùng dữ liệu và mất điểm.
Tổng thể là toàn bộ học sinh của trường, còn mẫu chỉ gồm 48 học sinh ăn căng tin trong một khoảng 30 phút được đồng xu chọn. Vì học sinh mang cơm từ nhà không có cơ hội nào lọt vào mẫu, mẫu này không đại diện cho toàn trường và tỉ lệ hài lòng nhiều khả năng cao hơn sự thật; kết luận của bài báo chỉ có giá trị cho nhóm học sinh thường ăn căng tin. Muốn khái quát cho cả trường, phóng viên phải chọn ngẫu nhiên học sinh từ danh sách toàn trường.
Mẫu 150 người Na Uy cho tỉ lệ , và nếu tỉ lệ thật ở Na Uy đúng bằng như ở Hoa Kỳ thì các tỉ lệ mẫu cỡ này chỉ dao động quanh với độ lệch chuẩn khoảng . Giá trị quan sát được lệch tới độ lệch chuẩn, ứng với giá trị khoảng . Vì vậy có đủ bằng chứng để kết luận rằng tỉ lệ người mang nhóm máu A dương ở Na Uy khác với tỉ lệ 36% ở Hoa Kỳ.