AP Statistics
positive relationship

Mối quan hệ thuận (positive relationship) là liên hệ giữa hai biến định lượng: biến này tăng thì biến kia có xu hướng tăng theo.
Khi khảo sát hai biến định lượng cùng lúc, ta thường dùng đồ thị phân tán (scatterplot) để nhìn nhận xu hướng chung. Mối quan hệ thuận xuất hiện khi các điểm dữ liệu dồn về một đường hoặc một dải đi di lên từ góc trái dưới sang góc phải trên. Điều đó có nghĩa là các cá thể có giá trị lớn ở biến giải thích thường mang giá trị lớn ở biến phản hồi, và ngược lại, các cá thể có giá trị nhỏ ở biến giải thích cũng thường có giá trị nhỏ ở biến phản hồi.
Độ mạnh của mối quan hệ thuận được đo bằng hệ số tương quan mẫu , với . Khi gần , các điểm nằm sát một đường thẳng đi lên, nghĩa là xu hướng tăng cùng nhau rất rõ ràng. Khi gần , mối liên hệ thuận vẫn có thể tồn tại nhưng rất yếu hoặc bị nhiễu bởi nhiều yếu tố khác. Công thức dựa trên hiệp phương sai chuẩn hóa của hai biến, do đó nó chỉ đánh giá quan hệ tuyến tính và nhạy cảm với giá trị ngoại lai (outlier).
Mối quan hệ thuận khác với mối quan hệ nghịch (negative relationship) ở chỗ biến phản hồi biến động cùng chiều với biến giải thích. Tuy nhiên, quan hệ thuận không đồng nghĩa với quan hệ nhân quả, vì hai biến có thể cùng chịu ảnh hưởng của một biến thứ ba hoặc chỉ tình cờ đi cùng nhau trong mẫu. Vì vậy, khi đọc đề thi AP Statistics, thí sinh cần phân biệt rõ "có xu hướng cùng tăng" với "tăng này gây ra tăng kia".
Trực giác: Nếu bạn đi chợ mua nhiều táo hơn thì tổng tiền phải trả cũng cao hơn, đó là mối quan hệ thuận quen thuộc.
Dùng khi cần đo cường độ và chiều của mối liên hệ tuyến tính giữa hai biến định lượng; nếu r > 0 thì hai biến có mối quan hệ thuận (positive relationship).
Trong đó
1888Francis GaltonKarl Pearson
Cuối thế kỷ 19, câu hỏi làm nhiều nhà khoa học bận tâm là: khi một đại lượng thay đổi thì đại lượng kia thay đổi theo cách nào, và thay đổi bao nhiêu. Năm 1886 Galton đưa ra hồi quy (regression), rồi đến năm 1888 ông mô tả tương quan như mối liên hệ giữa hai biến, tức là một cách nói gọn cho việc hai đặc điểm cùng lên hoặc cùng xuống. Từ năm 1889, Pearson bị cuốn hút bởi ý tưởng này vì thấy tương quan là phạm trù rộng hơn nhân quả, và ông bắt đầu xây dựng nền toán học cho nó nhằm phục vụ tâm lý học, nhân học, y học và xã hội học. Nhờ đó, việc phân biệt chiều của mối liên hệ trở thành thao tác thường quy.
Quan hệ thuận không chứng minh biến này gây ra biến kia.
Dữ liệu quan sát chỉ cho thấy hai đại lượng cùng tăng, chứ không nói vì sao chúng cùng tăng. Rất có thể một biến gây nhiễu (lurking variable) thứ ba đẩy cả hai lên cùng lúc, chẳng hạn số kem bán ra và số vụ đuối nước đều tăng theo nhiệt độ mùa hè. Chỉ khi dữ liệu đến từ một thí nghiệm có phân nhóm ngẫu nhiên thì mới được phép nói đến nhân quả (causation). Vì vậy trong bài tự luận, hãy viết "có mối liên hệ thuận" chứ đừng viết "làm cho", "dẫn đến".
Thuận là nói về hướng, không nói về độ mạnh.
Nhiều học sinh thấy chữ "thuận" liền kết luận mối liên hệ chặt chẽ. Thực ra hệ số tương quan (correlation coefficient) bằng vẫn là thuận, nhưng đám mây điểm tản mác đến mức gần như vô dụng cho dự đoán. Hướng do dấu của quyết định, còn độ mạnh do gần hay gần quyết định. Do đó khi mô tả, hai ý này phải nói tách nhau ra.
Thuận là xu hướng chung, không đòi hỏi mọi điểm đều tăng.
Trong một tập dữ liệu có quan hệ thuận, vẫn tồn tại những cặp điểm mà giá trị lớn hơn nhưng lại nhỏ hơn. Điều đó hoàn toàn bình thường và không phá vỡ kết luận, vì ta đang mô tả khuynh hướng của toàn bộ đám mây điểm chứ không phải từng quan sát riêng lẻ. Chỉ nên xem lại kết luận khi xuất hiện giá trị ngoại lai (outlier) đủ mạnh để kéo lệch đường xu hướng.
Hệ số tương quan chỉ đo quan hệ tuyến tính, nên có thể che giấu quan hệ thuận dạng cong.
Nếu tăng theo nhưng tăng theo đường cong, vẫn dương mà lại nhỏ hơn nhiều so với mức độ liên hệ thực sự. Ngược lại, một giá trị dương khá lớn cũng không bảo đảm dạng quan hệ là đường thẳng. Vì vậy luôn nhìn hình trước, tính số sau; đừng dùng riêng để kết luận về hướng lẫn dạng.
Quiz câu thật từ ngân hàng đề
Vài câu thật gắn đúng khái niệm này, chấm ngay kèm giải thích từng đáp án — hệ thống ghi nhớ bạn nắm tới đâu.
Biên soạn bởi DucklingStudy, bản quyền thuộc DucklingStudy. Xuất bản .
Vì sao mang đúng cái tên này? Chữ "thuận" ở đây không mang nghĩa đạo đức hay khen chê, mà chỉ nói về chiều của mối liên hệ: hai biến đi cùng chiều nhau, biến này tăng thì biến kia có xu hướng tăng theo. Tên gọi này gắn với cách Galton mô tả tương quan như quan hệ giữa hai biến, và với việc đại lượng đo mức liên hệ mang dấu — dấu dương ứng với trường hợp cùng chiều, dấu âm ứng với trường hợp ngược chiều. Vì vậy trong tiếng Anh, người ta dùng "positive" theo nghĩa dấu số học chứ không theo nghĩa "tốt", và học sinh cần nhớ rằng một mối quan hệ thuận giữa lượng thuốc lá hút và nguy cơ bệnh tật vẫn là quan hệ thuận, dù nội dung của nó chẳng hề tích cực. Một điểm nữa đáng lưu ý từ chính lịch sử khái niệm: Pearson quan tâm tới tương quan vì nó rộng hơn nhân quả, nên quan hệ thuận không hề đồng nghĩa với việc biến này gây ra biến kia.
Kéo điểm sang góc đối diện — nhìn dấu của r lật theo
Kéo tham số, thấy khái niệm chuyển động — mở khoá bằng tài khoản 0đ.
Mô tả biểu đồ phân tán (scatterplot) phải đủ bốn ý: hướng, dạng, độ mạnh, điểm bất thường.
Giám khảo chấm theo từng ý, thiếu ý nào mất điểm ý đó. Một câu đạt điểm trọn vẹn có kiểu: "Mối liên hệ thuận, gần tuyến tính, khá mạnh, không có điểm bất thường rõ rệt." Và bắt buộc gắn tên hai biến trong ngữ cảnh của đề, không được viết chung chung là "x và y".
Dấu của hệ số tương quan và dấu của hệ số góc luôn giống nhau — dùng để kiểm tra chéo.
Nếu đường hồi quy có hệ số góc dương mà bạn lại viết thì chắc chắn một trong hai chỗ sai. Quan hệ giữa chúng là , mà và đều dương, nên hai dấu buộc phải trùng nhau. Chỉ mất vài giây kiểm tra nhưng cứu được cả câu.
Chỉ dùng từ "thuận" cho hai biến định lượng.
Với hai biến phân loại, đề hỏi về mối liên hệ thì phải trả lời bằng so sánh tỉ lệ trong bảng hai chiều, không được nói "tương quan thuận". Viết sai loại biến là lỗi bị trừ điểm ngay cả khi phần tính toán đúng.
Chi phí quảng cáo và doanh thu có mối quan hệ thuận, dạng tuyến tính và rất mạnh, với . Đường hồi quy cho biết cứ thêm 1 triệu đồng quảng cáo thì doanh thu dự đoán tăng khoảng 3,06 triệu đồng. Tuy nhiên, vì đây là dữ liệu quan sát chứ không phải thí nghiệm ngẫu nhiên, ta chỉ được nói hai biến cùng tăng, không được kết luận rằng quảng cáo làm doanh thu tăng.
Mối liên hệ giữa số ngày và số khuẩn lạc là quan hệ thuận vì tăng đều đặn khi tăng và . Tuy nhiên không thể kết luận mô hình tuyến tính phù hợp: biểu đồ phần dư có dạng chữ U và mô hình còn dự đoán số khuẩn lạc âm ở ngày thứ nhất, cho thấy quan hệ tuy thuận nhưng cong, cần biến đổi dữ liệu trước khi hồi quy.