AP Chemistry
temperature
Còn gọi: nhiệt độ của vật

Nhiệt độ là đại lượng vật lý đo mức độ nóng hay lạnh của một vật và xác định chiều truyền nhiệt giữa các vật tiếp xúc nhau.
Nhiệt độ là một trong những đại lượng cơ bản nhất của hóa học và vật lí, bởi nó phản ánh mức độ chuyển động nhiệt trung bình của các hạt cấu thành vật chất (matter). Ở cấp độ vi mô, nhiệt độ tỉ lệ thuận với động năng (kinetic energy) tịnh tiến trung bình của các phân tử (molecule); do đó, một vật có nhiệt độ cao hơn nghĩa là các hạt bên trong nó chuyển động hỗn loạn nhanh hơn.
Từ ý nghĩa vi mô ấy, người ta xây dựng một thang đo thống nhất cho nhiệt độ. Trong hệ đo lường quốc tế (SI), đơn vị nhiệt độ là ken-vin, kí hiệu K, được định nghĩa sao cho không độ tuyệt đối () tương ứng với trạng thái mà các hạt có động năng nhiệt bằng không về mặt lí thuyết. Bên cạnh đó, đời sống hằng ngày lại quen dùng thang nhiệt độ bách phân với kí hiệu °C, vì vậy ta cần một hệ thức chuyển đổi giữa hai thang. Mối liên hệ giữa thang bách phân và thang nhiệt độ tuyệt đối được viết gọn là
trong đó là nhiệt độ tuyệt đối tính theo ken-vin và là nhiệt độ tính theo thang bách phân. Công thức này cho thấy hai thang đo song song với nhau và chỉ khác nhau ở điểm gốc, cho nên một khoảng chênh lệch nhiệt độ có giá trị như nhau trên cả hai thang.
Không chỉ là một đại lượng để đo đạc, nhiệt độ còn đóng vai trò then chốt trong hóa học vì nó quyết định chiều truyền nhiệt: nhiệt luôn tự phát chuyển từ vật có nhiệt độ cao sang vật có nhiệt độ thấp hơn cho đến khi hai vật đạt cân bằng nhiệt. Ngược lại, khi hai vật đã ở cùng một nhiệt độ thì không còn sự trao đổi nhiệt thuần nào xảy ra giữa chúng. Chính vì thế, kiểm soát nhiệt độ là điều kiện không thể thiếu trong mọi thí nghiệm đo nhiệt lượng (heat), trong nghiên cứu tốc độ phản ứng cũng như trong các tính toán về cân bằng hóa học.
Trực giác: Nhiệt độ giống như tốc độ trung bình của các vũ công trên sàn: càng nhiều vũ công di chuyển nhanh và mạnh thì nhiệt độ của sàn nhảy càng cao — và ai đứng gần cũng cảm nhận được 'sức nóng' từ đám đông đó.
1670GalenGalileo GalileiRobert BoyleOle RømerDaniel Gabriel Fahrenheit
Nhiệt độ không phải nhiệt lượng.
Nhiệt độ đo động năng trung bình của các hạt, còn nhiệt lượng là năng lượng thực sự truyền đi và phụ thuộc vào cả khối lượng lẫn nhiệt dung riêng. Vì vậy một cốc nước 100 mL ở có nhiệt độ cao hơn nhưng chứa ít năng lượng nhiệt hơn một bồn nước 50 L ở . Trong bài tính nhiệt lượng kế, đại lượng đưa vào là độ chênh nhiệt độ, còn kết quả mới là nhiệt lượng; lẫn hai khái niệm này là mất điểm ở phần lập luận.
Tăng nhiệt độ làm phản ứng nhanh chủ yếu vì phần phân tử vượt được rào năng lượng tăng vọt.
Nhiều học sinh chỉ trả lời "va chạm nhiều hơn" và dừng lại ở đó. Đúng là tốc độ chuyển động tăng nên tần số va chạm cũng tăng, nhưng mức tăng đó khá khiêm tốn so với mức tăng của tỉ lệ va chạm đủ mạnh. Nhìn vào phân bố Maxwell–Boltzmann (Maxwell–Boltzmann distribution), khi tăng thì đuôi phải của đường cong dày lên rất nhanh, và biểu thức cho thấy phụ thuộc vào theo hàm mũ. Do đó câu trả lời được điểm phải nêu được ý "nhiều va chạm có năng lượng lớn hơn hoặc bằng năng lượng hoạt hóa (activation energy) hơn".
Nhiệt độ không làm thay đổi năng lượng hoạt hóa.
Rào năng lượng là đặc trưng của cơ chế phản ứng, chỉ chất xúc tác mới hạ được nó bằng cách mở một đường đi khác. Khi đun nóng, thứ thay đổi là hằng số tốc độ và tỉ lệ phân tử đủ năng lượng, còn đỉnh của giản đồ năng lượng vẫn nằm nguyên chỗ cũ. Ngược lại, nhiệt độ lại là yếu tố duy nhất làm đổi giá trị của hằng số cân bằng (equilibrium constant); thêm chất, đổi thể tích hay thêm xúc tác đều không đụng tới nó.
Phải đổi sang kelvin trước khi thay vào phương trình khí lí tưởng.
Trong , nếu để nguyên độ Celsius thì tỉ lệ giữa các đại lượng sai hoàn toàn, thậm chí cho ra thể tích âm khi nhiệt độ dưới . Quy tắc là áp dụng cho mọi bài khí, mọi bài dùng và mọi bài dùng . Tuy nhiên, riêng với hiệu nhiệt độ trong thì một độ Celsius bằng đúng một kelvin nên không cần đổi.
Quiz câu thật từ ngân hàng đề
Vài câu thật gắn đúng khái niệm này, chấm ngay kèm giải thích từng đáp án — hệ thống ghi nhớ bạn nắm tới đâu.
Biên soạn bởi DucklingStudy, bản quyền thuộc DucklingStudy. Xuất bản .
Trước khi có dụng cụ đo, người ta chỉ mô tả nóng lạnh bằng cảm giác, nên thầy thuốc Galen đề xuất xếp chúng theo những "mức độ" để nói về tình trạng cơ thể người bệnh một cách có thứ bậc. Ý tưởng đó tồn tại rất lâu nhưng vẫn chưa phải đại lượng đo được. Sang thế kỷ 17, Galileo dùng từ Latin temperatura theo nghĩa độ nóng lạnh, và đến năm 1670 Boyle xác lập nghĩa khoa học này trong tiếng Anh. Đầu thế kỷ 18, Ole Rømer dựng thang đo hiệu chuẩn đầu tiên dựa trên điểm đông đặc và điểm sôi, còn Fahrenheit chế tạo được dụng cụ đo đáng tin cậy; về sau William Thomson tìm cách biến một độ thành đơn vị thực thụ.
Vì sao mang đúng cái tên này? Từ tiếng Anh temperature mượn thẳng từ danh từ Latin temperatura, vốn đã được Galileo dùng theo nghĩa độ nóng lạnh trước khi Boyle cố định nghĩa khoa học ấy vào năm 1670. Cái tên nghe không liên quan gì đến nóng lạnh là vì nó thừa hưởng truyền thống của Galen, người mô tả cơ thể qua những "mức độ nóng và lạnh" (degrees of heat and cold) — tức một trạng thái pha trộn có thứ bậc, chứ không phải một con số đọc trên dụng cụ. Nghĩa hiện đại của từ này còn được viết lại thêm một lần nữa khi Boltzmann làm rõ ý nghĩa vi mô của entropy: nhiệt độ trở thành thước đo động năng tịnh tiến trung bình (average translational kinetic energy) của các phân tử, một cách hiểu giải thích được các định nghĩa cũ và mở rộng khái niệm sang những hệ mà lý thuyết động học (kinetic theory) không áp dụng nổi.
Nguồn đối chiếu
Nhiệt độ, thể tích không đổi, thêm khí trơ tăng áp suất tổng nhưng không đổi áp suất riêng phần.
Đây là bẫy quen thuộc: học sinh thấy áp suất tổng tăng liền kết luận cân bằng chuyển dịch. Thực ra mỗi khí ban đầu vẫn có đúng số mol cũ trong đúng thể tích cũ ở đúng nhiệt độ cũ, nên áp suất riêng phần (partial pressure) của nó không đổi; chỉ phần mol (mole fraction) giảm đi vì mẫu số tăng. Vì cân bằng chỉ "nhìn thấy" áp suất riêng phần, hệ hoàn toàn không chuyển dịch.
Viết rõ giá trị kelvin ra giấy trước khi thay số.
Giám khảo chấm theo từng bước, nên một dòng ghi vừa giúp bạn khỏi quên vừa cho thấy phương pháp đúng ngay cả khi kết quả cuối lệch. Trong câu tự luận yêu cầu "show your work", đáp số trần không kèm phép tính thường bị trừ hết điểm, và lỗi để nguyên Celsius là lỗi bị bắt nhiều nhất ở phần khí và nhiệt động lực học.
Khi giải thích ảnh hưởng của nhiệt độ tới tốc độ, phải nhắc tới rào năng lượng.
Một câu trả lời chỉ nói "phân tử chuyển động nhanh hơn nên va chạm nhiều hơn" thường chỉ được một phần điểm. Câu đủ ý cần gồm ba mắt xích nối liền nhau: nhiệt độ cao làm động năng trung bình tăng, do đó tỉ lệ phân tử có năng lượng lớn hơn hoặc bằng tăng, nhờ đó số va chạm thành công trong một đơn vị thời gian tăng. Nếu đề cho sẵn giản đồ phân bố năng lượng, hãy chỉ thẳng vào vùng đuôi bên phải vạch .
Trước khi kết luận cân bằng chuyển dịch, hãy kiểm tra xem nhiệt độ có thay đổi không.
Nếu nhiệt độ giữ nguyên thì hằng số cân bằng giữ nguyên, và mọi tác động khác chỉ làm hệ chạy về lại đúng giá trị cũ. Ngược lại, khi đề nói đun nóng hoặc làm lạnh, bạn phải xét dấu của rồi coi nhiệt như một chất tham gia hay sản phẩm để lập luận; đây là trường hợp duy nhất mà bản thân đổi giá trị.
Nước nóng lên và kim loại nguội đi cho đến khi hai phần có cùng động năng trung bình tại ; từ dữ liệu nhiệt độ đó, nhiệt dung riêng của kim loại bằng , gần với giá trị của nhôm. Nếu có thất thoát nhiệt ra môi trường, con số này sẽ thấp hơn giá trị thật của .
Chỉ tăng mà hằng số tốc độ đã lớn gấp khoảng lần, nên ở phản ứng chạy nhanh hơn gấp đôi so với ở . Kết quả này minh họa đúng ý ở phần (a): nhiệt độ không đụng đến rào năng lượng hoạt hóa mà chỉ làm tăng vọt tỉ lệ phân tử đủ sức vượt rào.