AP Statistics
binomial distribution
Còn gọi: binomial model · mô hình nhị thức · Bin(n, p) · B(n, p) · binomial probability distribution

Phân phối nhị thức là phân phối của số lần thành công trong n phép thử độc lập, mỗi phép thử có hai kết quả với xác suất thành công không đổi.
Phân phối nhị thức mô tả hành vi của một biến ngẫu nhiên (random variable) đếm số lần thành công khi lặp lại một thí nghiệm có hai kết quả — thành công hoặc thất bại — đúng lần. Để áp dụng mô hình này, bốn điều kiện sau phải được thỏa mãn đồng thời: số phép thử cố định trước, mỗi phép thử chỉ cho một trong hai kết quả, xác suất thành công giữ nguyên qua mọi phép thử, và các phép thử độc lập với nhau. Khi cả bốn điều kiện cùng hội đủ, ta nói biến ngẫu nhiên tuân theo phân phối .
Xác suất để nhận đúng giá trị lần thành công được tính bằng công thức:
Trong đó là số cách chọn vị trí thành công từ phép thử, là xác suất của lần thành công liên tiếp, còn là xác suất của lần thất bại còn lại. Nói cách khác, công thức nhân xác suất của một kịch bản cụ thể với số kịch bản có cùng kết quả.
Từ công thức trên suy ra hai tham số tóm tắt phân phối: kỳ vọng và độ lệch chuẩn (standard deviation) . Vì vậy, nếu tung một đồng xu lệch với đúng lần thì số mặt ngửa kỳ vọng là và độ lệch chuẩn xấp xỉ . Khi đủ lớn sao cho và , phân phối nhị thức xấp xỉ tốt bằng phân phối chuẩn, tạo cầu nối sang các phương pháp suy luận thống kê về tỉ lệ.
Trực giác: Hãy hình dung bạn ném một quả bóng rổ lần: phân phối nhị thức cho biết xác suất để bạn ghi được đúng điểm, giả sử mỗi cú ném đều có cùng tỉ lệ vào rổ và không ảnh hưởng lẫn nhau.
Dùng khi đếm số lần thành công trong n phép thử độc lập, mỗi phép thử chỉ có hai kết quả và xác suất thành công p không đổi qua các lần.
Trong đó
1713Jakob BernoulliAbraham de Moivre
Lý thuyết xác suất khởi đầu từ những câu hỏi về trò chơi may rủi mà Antoine Gombaud đặt ra cho Blaise Pascal năm 1654 và được chuyển tiếp cho Fermat. Trên nền đó, Bernoulli chuyển sự chú ý từ một ván bạc đơn lẻ sang chuỗi nhiều lần thử độc lập giống hệt nhau, và tính được xác suất của đúng lần thành công trong lần lặp. Ông còn muốn chứng minh rằng khi quan sát càng nhiều thì tần số tương đối càng tiến gần giá trị lý thuyết — chính là ý tưởng dẫn tới định luật số lớn (law of large numbers). Vì tính tay với lớn quá nặng, Abraham de Moivre về sau đưa ra xấp xỉ bằng đường cong chuẩn trong The Doctrine of Chances (1738), lần đầu tiên phân phối chuẩn được dùng.
Trung bình của phân phối nhị thức không phải số thành công của một mẫu cụ thể.
Khi đề nói có trung bình 2.7 người, câu đó không hứa rằng cứ chọn 45 người thì đúng 2.7 người thiếu đặc điểm; mỗi nhóm 45 người sẽ cho một con số khác nhau, có nhóm 1, có nhóm 5. Ý nghĩa đúng là: nếu lặp lại việc chọn ngẫu nhiên nhóm 45 người rất nhiều lần và ghi lại số người thiếu đặc điểm ở mỗi nhóm, thì trung bình của tất cả các con số ấy bằng 2.7. Vì vậy lời diễn giải đạt điểm luôn phải gắn với cụm "trên tất cả các mẫu cỡ 45 có thể có", chứ không gắn với một mẫu duy nhất.
Trung bình không nhất thiết là số nguyên, đừng làm tròn thành 3 người.
Nhiều học sinh thấy rồi tự nhủ rằng không thể có 2.7 con người nên phải làm tròn. Nhưng trung bình ở đây là giá trị trung bình dài hạn của một dãy số nguyên, mà trung bình của các số nguyên hoàn toàn có thể là số lẻ. Tương tự, 23.75 lô hàng nguyên vẹn trong 25 lô là một đáp án hợp lệ, và làm tròn nó thành 24 sẽ mất điểm vì đã thay đổi con số mà đề yêu cầu diễn giải.
Phải xác định "thành công" theo đúng biến mà đề định nghĩa.
Trong bài về nhóm 45 người, tỉ lệ 94 phần trăm là tỉ lệ người CÓ đặc điểm, nhưng biến lại đếm số người KHÔNG có đặc điểm, nên chứ không phải . Chỉ cần lấy nhầm , cả trung bình lẫn độ lệch chuẩn (standard deviation) đều sai theo, và sẽ dẫn tới một câu diễn giải vô nghĩa. Do đó thói quen an toàn là gạch chân câu định nghĩa biến trong đề trước khi chạm vào máy tính.
Nhị thức đếm số thành công trong lần cố định; đừng lẫn với phân phối hình học.
Phân phối nhị thức yêu cầu số phép thử (trial) được ấn định trước và biến quan tâm là số lần thành công; ngược lại, phân phối hình học (geometric distribution) để số phép thử tự do và đếm xem phải thử đến lần thứ mấy mới có thành công đầu tiên. Ngoài ra còn điều kiện độc lập: khi lấy mẫu không hoàn lại từ một tổng thể hữu hạn, các quan sát không thật sự độc lập, nên phải viện đến điều kiện 10% (10% condition) rằng cỡ mẫu không vượt quá một phần mười tổng thể. Nếu bỏ qua bước kiểm tra này mà cứ dùng , lập luận sẽ hổng ngay ở phần biện minh.
Quiz câu thật từ ngân hàng đề
Vài câu thật gắn đúng khái niệm này, chấm ngay kèm giải thích từng đáp án — hệ thống ghi nhớ bạn nắm tới đâu.
Biên soạn bởi DucklingStudy, bản quyền thuộc DucklingStudy. Xuất bản .
Trong đó
Tính độ lệch chuẩn (standard deviation) của phân phối nhị thức; đo mức độ dao động của số lần thành công quanh giá trị kỳ vọng.
Trong đó
Vì sao mang đúng cái tên này? Cái tên nghe như tên một hằng đẳng thức đại số, và đúng là như vậy. Bernoulli chỉ ra rằng xác suất có lần thành công trong lần lặp bằng đúng số hạng thứ (đếm từ số hạng thứ 0) trong khai triển của biểu thức nhị thức , với . Toàn bộ dãy xác suất của biến đếm số lần thành công chính là dãy các số hạng của khai triển ấy, nên phân phối được gọi theo tên của biểu thức sinh ra nó. Cũng vì lý do đó mà hệ số trong công thức mang tên hệ số nhị thức (binomial coefficient), còn mỗi lần thử riêng lẻ với hai kết quả thành công — thất bại được gọi là phép thử Bernoulli (Bernoulli trial) để ghi công người đã dựng nên mô hình.
Nguồn đối chiếu
Chạy 500 lượt, mỗi lượt 45 người — xem đống chấm dồn quanh vạch trung bình
Kéo tham số, thấy khái niệm chuyển động — mở khoá bằng tài khoản 0đ.
Câu diễn giải trung bình phải có ba thành phần: giá trị, đơn vị, và cụm "trong dài hạn".
Một câu trả lời đầy đủ nghe như: "Trong rất nhiều lô 25 lô hàng chọn ngẫu nhiên, trung bình số lô có bát nguyên vẹn là 23.75 lô." Thiếu chữ chỉ sự lặp lại thì giám khảo hiểu bạn đang nói về một mẫu duy nhất và trừ điểm, dù con số hoàn toàn đúng. Vì vậy hãy tập viết sẵn khung câu này và chỉ thay số, thay đơn vị khi vào phòng thi.
Viết ra , và ký hiệu xác suất trước khi bấm máy tính.
Bài tự luận cho điểm phần thiết lập, nên dòng " có phân phối nhị thức với , , cần tìm " đáng giá hơn con số cuối cùng đứng trơ trọi. Nếu chỉ chép ra kết quả của lệnh máy tính mà không cho biết mình tính đại lượng nào, bài làm bị xem là không có lời giải. Sau đó mới ghi kết quả kèm công thức nếu đề yêu cầu tính tay.
Phân biệt "đúng bằng", "nhiều nhất" và "ít nhất" trước khi chọn lệnh.
Cụm "exactly" ứng với hàm khối xác suất, "at most" ứng với hàm tích lũy, còn "at least " phải đổi thành — quên trừ đi một đơn vị ở đây là lỗi mất điểm phổ biến nhất trong các câu nhị thức. Với câu hỏi kiểu "kết quả này có bất thường không", hãy so sánh giá trị quan sát với theo đơn vị : lệch quá khoảng hai độ lệch chuẩn thì có cơ sở để gọi là bất thường.
Vì số lần chọn cố định, hai kết quả, xác suất không đổi và các lần chọn độc lập nên tuân theo phân phối nhị thức với , . Trung bình người và độ lệch chuẩn người; nghĩa là qua rất nhiều mẫu ngẫu nhiên cỡ 45 người, trung bình mỗi mẫu có khoảng 2.7 người không mang đặc điểm. Xác suất một mẫu có đúng 2 người như vậy xấp xỉ , tức khoảng 24.9%.
Với và , trung bình là 18 hạt và độ lệch chuẩn xấp xỉ 1.342 hạt, tức qua nhiều lần gieo 20 hạt thì trung bình mỗi lần khoảng 18 hạt nảy mầm. Xác suất có ít nhất 19 hạt nảy mầm là khoảng 0.392. Vì chỉ vào cỡ 4.3%, kết quả 15 hạt là bằng chứng đủ mạnh để người nông dân nghi ngờ rằng tỉ lệ nảy mầm thực tế thấp hơn 0.9 như công ty công bố.