AP Chemistry
second-order reaction
Còn gọi: phản ứng bậc hai · second-order

Phản ứng bậc 2 là phản ứng có tổng số mũ nồng độ trong định luật tốc độ bằng 2, nên đồ thị nghịch đảo nồng độ theo thời gian là đường thẳng.
Bậc của một phản ứng không suy ra từ hệ số trong phương trình hóa học (chemical equation) mà phải xác định bằng thực nghiệm, thông qua dạng của định luật tốc độ (rate law). Một phản ứng được gọi là phản ứng bậc 2 khi các số mũ nồng độ trong biểu thức tốc độ cộng lại đúng bằng 2, và điều đó xảy ra ở hai tình huống: tốc độ phụ thuộc bình phương nồng độ của một chất, , hoặc phụ thuộc bậc nhất vào hai chất khác nhau, . Vì vậy khi tăng gấp đôi nồng độ chất trong trường hợp đầu, tốc độ tăng gấp bốn chứ không phải gấp đôi.
Với trường hợp chỉ một chất phản ứng (reactant), phép lấy tích phân định luật tốc độ cho ta phương trình
nghĩa là nghịch đảo nồng độ tại thời điểm tăng tuyến tính theo thời gian, với hệ số góc bằng đúng hằng số tốc độ (rate constant) và tung độ gốc bằng nghịch đảo nồng độ ban đầu. Đây chính là tiêu chuẩn nhận dạng thường gặp trong đề: nếu đồ thị theo cong mà đồ thị theo lại thẳng thì phản ứng là bậc 2. Ngoài ra, do dạng tích phân này chứa nghịch đảo nồng độ nên đơn vị của buộc phải là .
Hệ quả đáng chú ý nhất nằm ở chu kỳ bán rã (half-life), được tính theo công thức
Khác với phản ứng bậc 1, thời gian để nồng độ giảm còn một nửa ở đây phụ thuộc vào nồng độ ban đầu, và vì nồng độ cứ nhỏ dần nên mỗi chu kỳ bán rã kế tiếp lại dài gấp đôi chu kỳ trước. Do đó phản ứng bậc 2 chậm lại rất nhanh về cuối. Bên cạnh đó, trên phương diện cơ chế, một bước sơ cấp lưỡng phân tử luôn có định luật tốc độ bậc 2, nên nếu bước đó là bước quyết định tốc độ thì cả phản ứng tổng cũng là bậc 2.
Trực giác: Giống như hai người phải gặp đúng nhau mới xong việc: càng ít người còn lại trong phòng thì càng lâu mới có một cặp chạm mặt.
Dùng để viết định luật tốc độ khi tổng các số mũ nồng độ bằng 2 — hoặc một chất mũ hai, hoặc hai chất mỗi chất mũ một.
Trong đó
Dùng khi cần tính nồng độ tại một thời điểm bất kỳ, hoặc xác định thời gian để nồng độ giảm tới giá trị mong muốn. Đồ thị theo là đường thẳng có hệ số góc dương.
1887Wilhelm OstwaldVan 't Hoff
Cuối thế kỷ 19, các nhà hóa học đã đo được rằng phản ứng chạy nhanh hay chậm tùy theo nồng độ, nhưng chưa có cách gọi tên thống nhất cho kiểu phụ thuộc đó. Ostwald lấp chỗ trống này khi đưa các thuật ngữ "bậc phản ứng" và "chu kỳ bán hủy" (half-life) vào bộ giáo trình hóa đại cương của ông năm 1887. Nhờ đó, mỗi phản ứng có một con số đặc trưng rút ra từ thực nghiệm chứ không phải từ phương trình cân bằng. Van 't Hoff sau đó nhận xét rằng phản ứng bậc 1 và bậc 2 khá phổ biến, còn bậc 3 thì hiếm; ông còn nêu một phản ứng có ba phân tử chất tham gia nhưng thực nghiệm lại cho thấy nó chạy theo bậc 2, dấu hiệu cho thấy phản ứng đi qua nhiều giai đoạn.
Bậc phản ứng không đọc được từ hệ số trong phương trình hóa học.
Rất nhiều học sinh nhìn rồi kết luận ngay đây là phản ứng bậc 2 vì hệ số tỉ lượng (stoichiometric coefficient) bằng 2. Bậc phản ứng là đại lượng THỰC NGHIỆM: nó chỉ được xác định bằng cách so sánh tốc độ đầu khi thay đổi nồng độ, hoặc bằng cách xem đồ thị nào cho đường thẳng. Trùng hợp giữa hệ số và bậc chỉ xảy ra khi phản ứng là một bước cơ bản (elementary step), và đề luôn phải nói rõ điều đó. Vì vậy khi chưa có dữ liệu thực nghiệm hay lời khẳng định của đề, đừng gán bậc cho bất kỳ chất nào.
Chu kỳ bán rã của phản ứng bậc 2 không phải hằng số.
Thói quen từ phần phân rã phóng xạ khiến học sinh mặc định cứ sau một khoảng thời gian cố định thì nồng độ lại giảm còn một nửa, nhưng điều đó chỉ đúng cho bậc 1. Với bậc 2, biểu thức là , nghĩa là chu kỳ bán rã tỉ lệ nghịch với nồng độ ban đầu. Khi chất phản ứng loãng dần, mỗi "nửa" tiếp theo lại mất thời gian gấp đôi nửa trước đó. Do đó nếu bảng số liệu cho thấy các khoảng bán rã liên tiếp dài ra, đó chính là bằng chứng của bậc 2 chứ không phải sai số đo.
Đồ thị tuyến tính của bậc 2 là theo , không phải theo .
Định luật tốc độ tích phân (integrated rate law) của bậc 2 có dạng , nên trục tung phải là nghịch đảo nồng độ. Một lỗi đi kèm là dấu của hệ số góc: với bậc 1 hệ số góc bằng , còn với bậc 2 hệ số góc bằng và đường thẳng đi LÊN. Nhiều bài thi mất điểm chỉ vì thí sinh vẽ đúng đồ thị nhưng báo cáo mang dấu âm. Hãy nhớ rằng hằng số tốc độ luôn dương, nên một giá trị âm là tín hiệu bạn đã chọn nhầm dạng đồ thị.
Đơn vị của trong phản ứng bậc 2 là , không phải .
Vì tốc độ luôn có đơn vị còn vế phải chứa nồng độ lũy thừa 2, phần đơn vị dư ra buộc phải mang . Tổng quát, với bậc thì có đơn vị , và chính quy tắc này biến đơn vị thành công cụ kiểm tra nhanh. Nếu đề cho sẵn thì bạn đã biết ngay phản ứng bậc 2 mà không cần tính gì thêm. Ngược lại, viết ra một đáp số với đơn vị sai thường bị trừ điểm dù phép tính số học hoàn toàn đúng.
Quiz câu thật từ ngân hàng đề
Vài câu thật gắn đúng khái niệm này, chấm ngay kèm giải thích từng đáp án — hệ thống ghi nhớ bạn nắm tới đâu.
Biên soạn bởi DucklingStudy, bản quyền thuộc DucklingStudy. Xuất bản .
Trong đó
Dùng để tính thời gian cần thiết nhằm giảm nồng độ chất phản ứng còn một nửa. Khác với bậc một, nửa chu kỳ bậc hai thay đổi sau mỗi lần halving nồng độ.
Trong đó
Vì sao mang đúng cái tên này? Chữ "bậc" ở đây chính là số mũ của nồng độ trong định luật tốc độ (rate law), nên "bậc 2" đơn giản có nghĩa là tổng các số mũ bằng hai: hoặc . Cách gọi này dễ gây hiểu lầm vì nhiều người tưởng con số đó lấy từ hệ số trong phương trình hóa học, nhưng ngay từ đầu Ostwald đã dùng nó như một đại lượng đo được từ thí nghiệm. Chính ví dụ của Van 't Hoff — ba phân tử chất tham gia mà vẫn cho bậc 2 — cho thấy vì sao bậc phản ứng phải tách khỏi hệ số cân bằng và chỉ được xác định bằng dữ liệu tốc độ.
Kéo $k$ và $[A]_0$ — xem đường nào duỗi thẳng ra
Kéo tham số, thấy khái niệm chuyển động — mở khoá bằng tài khoản 0đ.
Khi đề cho bảng nồng độ theo thời gian, hãy thử cả ba dạng đồ thị trước khi kết luận.
Cách làm được chấm điểm là lập thêm hai cột và rồi chỉ ra cột nào cho hiệu số đều nhau, tức đường thẳng. Trong bài tự luận, giám khảo muốn thấy câu khẳng định rõ ràng kiểu "đồ thị theo tuyến tính, do đó phản ứng bậc 2 theo A" — chỉ khoanh đáp án mà không nêu lý do sẽ mất điểm lập luận. Nếu dữ liệu quá ít để vẽ, dùng phương pháp tốc độ đầu (method of initial rates): nồng độ tăng gấp đôi mà tốc độ tăng gấp bốn thì bậc bằng 2.
Phân biệt rõ "bậc 2 theo một chất" và "bậc 2 tổng cộng" khi trình bày.
Biểu thức và đều có tổng số mũ bằng 2, nhưng ở dạng thứ hai phản ứng chỉ là bậc 1 đối với từng chất. Điều này quan trọng vì các công thức tích phân và chu kỳ bán rã chỉ áp dụng được cho trường hợp ; áp nhầm vào dạng sẽ cho kết quả vô nghĩa. Trong câu trả lời, hãy viết hẳn "bậc 1 theo A, bậc 1 theo B, bậc 2 tổng cộng" để không bị hiểu nhầm.
Nhớ rằng bậc phản ứng phản ánh cơ chế, còn cơ chế phải khớp với định luật tốc độ.
Nếu đề đưa ra một cơ chế nhiều bước và hỏi cơ chế đó có phù hợp không, bạn phải viết định luật tốc độ của bước quyết định tốc độ (rate-determining step) rồi so với biểu thức thực nghiệm. Một bước chậm gồm hai phân tử va chạm sẽ cho tổng bậc bằng 2, nhưng nếu bước đó chứa chất trung gian thì phải thay chất trung gian bằng nồng độ các chất đầu qua cân bằng nhanh phía trước. Bỏ qua bước thay thế này là lỗi phổ biến nhất ở câu tự luận về động học.
Vì chỉ đồ thị theo là đường thẳng, sự phân hủy ở 300 °C là phản ứng bậc 2 với định luật tốc độ và . Với nồng độ đầu , chu kì bán rã là 184 s và sẽ tăng gấp đôi ở nửa sau; sau 500 s trong bình chỉ còn .
Phản ứng tuân theo với : bậc 1 theo từng chất nhưng bậc 2 tổng cộng, phù hợp với một bước lưỡng phân tử trong đó tấn công trực tiếp phân tử . Ở nồng độ cho cả hai chất, tốc độ đầu là .