AP Chemistry
atomic number

Số hiệu nguyên tử là số proton trong hạt nhân nguyên tử, kí hiệu Z, xác định danh tính nguyên tố hóa học.
Mỗi nguyên tố (element) hóa học được xác định bởi số prôtôn trong hạt nhân, và con số này gọi là số hiệu nguyên tử. Kí hiệu của đại lượng này là chữ , bắt nguồn từ tiếng Đức "Zahl" nghĩa là "số". Trong bảng tuần hoàn, các nguyên tố được sắp xếp theo chiều tăng dần của số prôtôn, nhờ đó mỗi nguyên tố chiếm một vị trí riêng biệt.
Vì prôtôn mang điện tích dương, số hiệu nguyên tử đồng thời cho biết điện tích hạt nhân (nuclear charge) tính theo đơn vị điện tích nguyên tố. Nhờ lực hút (attractive forces) tĩnh điện mà hạt nhân dương hút các êlectron mang điện tích âm chuyển động xung quanh. Đối với nguyên tử trung hòa về điện, số êlectron bằng đúng số prôtôn, do đó số hiệu nguyên tử cũng cho biết số êlectron ở lớp vỏ.
Tuy nhiên, khi nguyên tử mất hoặc nhận thêm êlectron, nó trở thành ion và số êlectron không còn bằng số prôtôn nữa. Dù vậy, số prôtôn vẫn không đổi vì nếu thay đổi số prôtôn thì nguyên tố sẽ biến đổi hoàn toàn. Vì vậy, số hiệu nguyên tử là đặc trưng cố định cho mỗi nguyên tố, phân biệt nguyên tố này với nguyên tố khác.
Trực giác: Số hiệu nguyên tử giống như số chứng minh thư của mỗi nguyên tố — không thay đổi và xác định danh tính duy nhất.
1913Antonius van den BroekErnest RutherfordHenry Gwyn-Jeffreys Moseley
Số hiệu nguyên tử đếm proton, không đếm electron của ion.
Với nguyên tử trung hòa thì hai con số này trùng nhau, nên nhiều bạn quen tay lấy luôn làm số electron trong mọi trường hợp. Nhưng khi đề cho với , hạt nhân vẫn giữ đúng proton còn lớp vỏ chỉ còn electron. Do đó cấu hình phải viết cho electron; nếu vẫn xếp đủ thì mọi lựa chọn sau đó đều sai bất kể thứ tự orbital có chuẩn hay không.
Đừng lẫn số hiệu nguyên tử với số khối (mass number).
Số hiệu nguyên tử là số proton và quyết định nguyên tố đó là gì, còn số khối là tổng proton và neutron nên thay đổi giữa các đồng vị. Vì vậy, hai đồng vị và có cùng và cùng cấu hình electron, chỉ khác nhau ở số neutron. Khi đề cho ký hiệu , con số phía dưới mới là thứ dùng để viết cấu hình.
Khi tạo cation của kim loại chuyển tiếp (transition metal), electron rời khỏi phân lớp trước.
Nhiều bạn nghĩ rằng vì được điền sau nên cũng phải bị lấy đi trước, rồi viết thành . Thực tế ở nguyên tử đã có electron , mức năng lượng nằm cao hơn nên bị ion hóa trước: là , bỏ hai electron rồi một electron cho ra . Nhớ quy tắc này thì các câu về ion của Fe, Mn, Cu gần như cho điểm.
Số hiệu nguyên tử cho biết vị trí trong bảng tuần hoàn, và vị trí cho biết hóa trị.
Với một nguyên tố lạ như livermorium (), đề không mong bạn thuộc lòng mà mong bạn đếm: điền tuần tự tới sẽ dừng ở , tức nhóm cùng cột với oxygen và sulfur. Nhờ đó suy ra electron hóa trị (valence electrons) là sáu, nguyên tố này nhận thêm hai electron và hợp chất với hydrogen có công thức . Bỏ qua bước quy về vị trí là mất trọn câu tự luận.
Quiz câu thật từ ngân hàng đề
Vài câu thật gắn đúng khái niệm này, chấm ngay kèm giải thích từng đáp án — hệ thống ghi nhớ bạn nắm tới đâu.
Biên soạn bởi DucklingStudy, bản quyền thuộc DucklingStudy. Xuất bản .
Đầu thế kỷ 20, các nguyên tố được xếp trên bảng tuần hoàn (periodic table) chủ yếu theo khối lượng nguyên tử, nhưng thứ tự ấy có chỗ khấp khểnh và không ai biết con số thứ tự kia có ý nghĩa vật lý gì. Năm 1911, Rutherford đưa ra mẫu nguyên tử với một hạt nhân mang điện dương ở trung tâm và ước đoán điện tích hạt nhân (nuclear charge) xấp xỉ một nửa khối lượng nguyên tử. Chỉ một tháng sau, van den Broek đề nghị điều mạnh hơn hẳn: điện tích ấy đúng bằng vị trí của nguyên tố trong bảng. Moseley sau đó bắn phá hàng loạt nguyên tố và biến giả thuyết này thành cơ sở thực nghiệm.
Vì sao mang đúng cái tên này? Cái tên nghe kỳ vì "number" ở đây không phải một đại lượng đo được, mà là số thứ tự: ban đầu nó chỉ vị trí của nguyên tố trên bảng tuần hoàn, đếm từ hydrogen trở đi. Van den Broek gọi nó bằng tiếng Đức là "Folgenummer", nghĩa đen là số thứ tự trong dãy, rồi Rutherford dùng cụm "atomic number" theo đúng nghĩa vị trí đó trong các bài viết bàn về ý tưởng của van den Broek — không thấy tác giả nào trước ông dùng từ này như vậy. Vì vậy tên gọi lưu lại dấu vết của thời kỳ mà người ta mới chỉ biết đếm chỗ ngồi của nguyên tố, chưa biết bên trong hạt nhân có gì. Mãi đến khi Rutherford xác lập sự tồn tại của proton năm 1920, con số thứ tự ấy mới được hiểu là số proton trong hạt nhân, tức đại lượng mà đề thi dùng ngày nay.
Thêm một proton — nhìn tên nguyên tố đổi hẳn, rồi thử đổi neutron và electron xem gì đứng im
Kéo tham số, thấy khái niệm chuyển động — mở khoá bằng tài khoản 0đ.
Luôn cộng tổng số mũ trong cấu hình rồi đối chiếu với .
Đây là cách kiểm tra nhanh nhất và bắt được gần hết đáp án nhiễu trong phần trắc nghiệm. Chẳng hạn magnesium có thì cộng lại đúng , còn phương án nào ra hay thì loại ngay mà không cần suy nghĩ về thứ tự orbital. Với ion, hãy cộng cho ra trừ điện tích dương hoặc cộng điện tích âm.
Viết rõ số electron cần xếp trước khi đặt bút viết cấu hình.
Trong câu tự luận, một dòng ngắn kiểu ": electron" cho giám khảo thấy bạn hiểu rằng điện tích đến từ việc mất electron chứ không phải mất proton. Bước này tốn năm giây nhưng chặn đứng lỗi phổ biến nhất của cả chương, đồng thời giúp chính bạn không đếm nhầm khi xếp tới các phân lớp .
Đề cho sẵn số hiệu nguyên tử trong ngoặc nghĩa là bạn phải dùng nó.
Khi thấy "(atomic number = 25)" hay "(atomic number 116)", hãy hiểu đó là tín hiệu rằng con đường giải đi qua cấu hình electron ở trạng thái cơ bản (ground state) và vị trí trong bảng tuần hoàn. Tuy nhiên, nếu được phát bảng tuần hoàn thì hãy dùng bảng để xác định cột thay vì điền tay từ , vừa nhanh vừa ít sai; chỉ điền tuần tự khi nguyên tố nằm ngoài bảng.
Nguyên tử Mn ở trạng thái cơ bản có cấu hình , còn ion có cấu hình . Ion chứa proton, neutron và electron. Điểm cốt lõi cần nhớ là số hiệu nguyên tử neo chặt danh tính nguyên tố ở con số proton: mất electron thì ion mang điện dương nhưng nó vẫn là mangan, còn nếu số proton thay đổi thì ta đã có một nguyên tố khác.
Từ , ta suy ra Lv thuộc chu kì nhóm với cấu hình electron hóa trị , và hợp chất của nó với hydrogen nhiều khả năng có công thức . Ví dụ này cho thấy sức mạnh thực sự của số hiệu nguyên tử: chỉ từ một con số đếm proton, ta dựng lại được cấu hình electron, định vị nguyên tố trong bảng tuần hoàn rồi dự đoán cả công thức hợp chất của một nguyên tố mà chưa ai từng làm thí nghiệm hóa học với nó.