AP Chemistry
property

Tính chất là đặc trưng cho phép nhận biết và phân biệt một chất với các chất khác.
Tính chất (property) là những đặc điểm riêng biệt giúp ta nhận ra một mẫu vật chất và phân biệt nó với các mẫu khác. Trong hóa học, việc quan sát và đo đạc các tính chất đóng vai trò nền tảng, bởi nhờ đó nhà khoa học mới xác định được chất đang nghiên cứu là gì và nó có thể tham gia vào những quá trình nào. Mỗi chất đều mang một tập hợp tính chất độc nhất, giống như dấu vân tay của con người vậy.
Cụ thể, các tính chất vật lý có thể được nhận biết mà không làm thay đổi bản chất hay thành phần của chất, chẳng hạn như màu sắc, mùi, khối lượng riêng, nhiệt độ nóng chảy và nhiệt độ sôi (boiling point). Ngược lại, khả năng chất đó biến đổi thành chất khác thông qua phản ứng hóa học (chemical reactions) được gọi là tính chất hóa học, ví dụ điển hình là tính cháy được của một chất trong môi trường oxi. Do đó, sự phân biệt này cho phép ta quyết định liệu một quá trình quan sát được chỉ là biến đổi vật lý (physical changes) thông thường hay đã xảy ra phản ứng thực sự.
Ngoài ra, một cách phân loại khác chia tính chất thành nhóm cường tính và dung lượng tính. Vì vậy, việc hiểu rõ sự khác biệt giữa hai nhóm này rất quan trọng trong thực tiễn. Cường tính không phụ thuộc vào lượng mẫu đang xét, bao gồm nhiệt độ, khối lượng riêng và nhiệt độ nóng chảy, trong khi dung lượng tính thay đổi theo kích thước mẫu như khối lượng và thể tích. Chính vì cường tính không bị ảnh hưởng bởi quy mô mẫu nên chúng thường được dùng để nhận dạng và xác định danh tính của một chất chưa biết.
Trực giác: Giống như nhận ra một người bạn qua giọng nói và dáng đi, ta phân biệt các chất qua những tính chất riêng biệt của chúng.
Nhiệt độ tăng nhiều hơn không có nghĩa chất đó tỏa nhiệt mạnh hơn.
Trong bảng số liệu quen thuộc, học sinh thứ hai dùng 3,0 g LiCl và thấy nước nóng thêm 6,0 °C, còn học sinh thứ nhất dùng 2,0 g và chỉ thấy 3,9 °C; nhiều bạn kết luận ngay rằng phép đo thứ hai cho enthalpy hòa tan lớn hơn. Thực ra độ tăng nhiệt độ phụ thuộc vào lượng chất, nên nó là tính chất khuếch độ (extensive property), còn nhiệt hòa tan tính trên một mol mới là tính chất cường độ (intensive property) đặc trưng cho LiCl. Vì vậy phải tính rồi chia cho số mol LiCl thì hai kết quả mới so sánh được, và khi đó chúng phải xấp xỉ bằng nhau.
Bốn đường phân bố tốc độ khác nhau không có nghĩa bốn khí có động năng khác nhau.
Đề cho rõ rằng các khí ở cùng nhiệt độ, mà động năng trung bình (average kinetic energy) của phân tử chỉ phụ thuộc vào nhiệt độ tuyệt đối theo . Do đó tính chất duy nhất xếp hạng được từ đồ thị là khối lượng mol: vì như nhau nên trong , khối lượng càng nhỏ thì tốc độ càng lớn. Đường có đỉnh lệch về phía phải ứng với khí nhẹ nhất, và học sinh nào trả lời "khí đó có động năng lớn nhất" đều mất trọn điểm.
Tính chất dùng để nhận diện một chất phải độc lập với lượng chất.
Khối lượng riêng, nhiệt độ sôi, nhiệt độ nóng chảy hay độ tan giữ nguyên giá trị dù ta lấy 1 g hay 1 kg mẫu, nên chúng nhận diện được chất; ngược lại khối lượng, thể tích và tổng nhiệt lượng thì thay đổi theo kích thước mẫu. Khi câu hỏi yêu cầu "identify the substance", đáp án chỉ chấp nhận đại lượng thuộc nhóm thứ nhất. Vì vậy đừng lấy giá trị đo thô làm bằng chứng nhận diện mà chưa chuẩn hóa theo khối lượng hoặc số mol.
Tính chất vật lý và tính chất hóa học khác nhau ở chỗ chất có biến thành chất khác hay không.
Màu sắc, độ dẫn điện, khối lượng riêng quan sát được mà thành phần hóa học vẫn nguyên vẹn, nên chúng là tính chất vật lý; ngược lại khả năng cháy hay khả năng phản ứng với axit chỉ bộc lộ khi chất đã chuyển thành chất mới. Học sinh hay xếp nhầm quá trình hòa tan LiCl vào nước thành "phản ứng hóa học" vì thấy nhiệt độ tăng rõ rệt. Tuy nhiên hòa tan chỉ tách ion ra khỏi mạng tinh thể rồi hydrate hóa chúng, nên đây vẫn là biến đổi vật lý dù kèm hiệu ứng nhiệt.
Quiz câu thật từ ngân hàng đề
Vài câu thật gắn đúng khái niệm này, chấm ngay kèm giải thích từng đáp án — hệ thống ghi nhớ bạn nắm tới đâu.
Biên soạn bởi DucklingStudy, bản quyền thuộc DucklingStudy. Xuất bản .
Với câu hỏi đồ thị phân bố tốc độ, viết "same temperature ⇒ same average kinetic energy" trước.
Đây là câu mở đường mà giám khảo tìm, và thiếu nó thì lập luận về khối lượng mol trở nên vô căn cứ. Sau đó dẫn tiếp bằng hoặc bằng để chỉ rõ rằng khối lượng mol tỉ lệ nghịch với bình phương tốc độ. Đường phân bố Maxwell–Boltzmann (Maxwell–Boltzmann distribution) nào có đỉnh xa gốc nhất thì ứng với khí nhẹ nhất, và bạn cần nói thẳng điều đó thay vì để người chấm tự suy.
Khi so sánh hai thí nghiệm nhiệt lượng kế, luôn chuẩn hóa về một mol trước khi kết luận.
Trình bày theo ba bước liền mạch: tính với là khối lượng dung dịch chứ không phải khối lượng chất tan, đổi khối lượng chất tan sang số mol, rồi lấy thương . Nhiều bài mất điểm chỉ vì dùng nhầm 2,0 g LiCl thay cho 100,0 g nước trong công thức. Chốt lại bằng một câu so sánh hai giá trị trên mol và giải thích rằng chênh lệch nhỏ còn lại đến từ sai số thí nghiệm.
Khi đề hỏi "what property", câu trả lời phải là một danh từ chỉ tính chất, kèm lý do.
Đừng viết mỗi tên chất hay mỗi thứ tự xếp hạng rồi dừng lại, vì thang điểm luôn tách riêng một điểm cho phần lập luận. Cấu trúc an toàn là: nêu tính chất được xếp hạng, nêu đại lượng nào giữ nguyên giữa các mẫu, rồi nêu quan hệ tỉ lệ dẫn tới thứ tự đó. Cách viết này chỉ tốn ba câu nhưng phủ kín mọi ô điểm của phần giải thích.
Khối lượng , khối lượng nước và nhiệt lượng là các tính chất khuếch tính, còn nhiệt độ và nhiệt hòa tan mol là các tính chất cường tính. Hai học sinh đo được nhiệt lượng khác hẳn nhau (1,66 kJ so với 2,58 kJ) chỉ vì họ cân lượng chất khác nhau, nhưng khi quy về một mol thì cả hai đều thu được khoảng đến . Do đó chỉ có nhiệt hòa tan mol mới là tính chất nhận biết được ; muốn dùng dữ liệu nhiệt lượng kế để so sánh các chất, luôn phải chia cho số mol trước đã.
Tính chất xếp hạng được từ đồ thị là khối lượng mol: ở cùng nhiệt độ, mọi phân tử có chung động năng trung bình, nên phân tử càng nặng thì đỉnh phân bố càng dịch về tốc độ thấp, cho thứ tự . Từ tỉ số bình phương tốc độ đỉnh, khối lượng mol của Z vào khoảng . Ngược lại, động năng trung bình là như nhau ở cả bốn khí nên không thể xếp hạng, và đồ thị cũng không đủ dữ kiện để so sánh khối lượng riêng.