AP Statistics
normal curve
Còn gọi: đường cong hình chuông · mound-shaped curve · đường cong đối xứng · bell-shaped curve · đường cong Gauss

Đường cong chuẩn là đồ thị hình chuông, đối xứng của phân phối chuẩn, được xác định hoàn toàn bởi trung bình và độ lệch chuẩn.
Đường cong chuẩn (normal curve) mô tả một phân phối xác suất (probability distribution) liên tục đặc biệt quan trọng trong thống kê. Đồ thị có dạng đối xứng (symmetric) quanh trung bình , cao nhất ở chính giữa rồi thoải dần về hai phía với hai đuôi kéo dài vô tận nhưng càng ngày càng sát trục hoành. Do đó, trung bình, trung vị và tứ phân vị thứ hai của phân phối này trùng nhau tại một điểm.
Mỗi đường cong chuẩn được xác định hoàn toàn bởi hai tham số: trung bình và độ lệch chuẩn . Hàm mật độ có dạng
trong đó là giá trị biến, là trung bình tổng thể, và là độ lệch chuẩn tổng thể. Công thức này cho thấy xác suất tập trung quanh và giảm dần theo hàm mũ khi lùi xa khỏi trung tâm. Ngược lại, trên đồ thị, hai điểm uốn — nơi đường cong chuyển từ lõm sang lồi — nằm đúng tại và , tức là cách trung bình đúng một độ lệch chuẩn về mỗi phía.
Nhờ tính đối xứng và cấu trúc cố định đó, quy tắc thực nghiệm — còn gọi là quy tắc 68–95–99,7 — áp dụng trực tiếp cho mọi đường cong chuẩn: khoảng chứa khoảng 68% diện tích, khoảng chứa khoảng 95%, và khoảng chứa khoảng 99,7% tổng diện tích dưới đường cong. Vì vậy, khi biết và , ta có thể ước lượng xác suất nằm trong bất kỳ khoảng nào mà không cần tính tích phân trực tiếp. Ngoài ra, đường cong chuẩn còn là nền tảng của định lý giới hạn trung tâm, định lý khẳng định rằng phân phối của trung bình mẫu tiệm cận dạng chuẩn khi cỡ mẫu đủ lớn — đây là lý do phân phối này xuất hiện rộng rãi trong suy luận thống kê.
Trực giác: Hãy tưởng tượng đổ một nắm cát từ trên cao xuống một tờ giấy: hầu hết hạt cát rơi vào giữa thành đống cao, còn số ít bắn ra xa hai bên — đó chính là hình dạng của đường cong chuẩn.
Công thức này cho biết mật độ xác suất tại mỗi giá trị của một phân phối chuẩn. Thí sinh gặp dạng này trên formula sheet của kỳ thi AP Statistics và cần nhận ra rằng toàn bộ hình dạng đường cong được quyết định hoàn toàn bởi hai tham số và .
Trong đó
1733Abraham de MoivreThomas SimpsonFrancis GaltonKarl Pearson
Đối xứng chưa chắc đã chuẩn.
Nhiều học sinh thấy biểu đồ cân hai bên là kết luận ngay dữ liệu tuân theo đường cong chuẩn, rồi áp quy tắc thực nghiệm (empirical rule) vào tính toán. Nhưng phân bố đều hay phân bố hai đỉnh cũng có thể đối xứng hoàn hảo mà không hề có dáng chuông thoải dần ở hai đuôi. Vì vậy khi lập luận, phải nói rõ phân bố vừa đối xứng vừa một đỉnh, đuôi mỏng dần, chứ chỉ nêu tính đối xứng thì chưa đủ căn cứ.
Cỡ mẫu lớn không làm cho dữ liệu trở nên chuẩn.
Định lý giới hạn trung tâm (central limit theorem) nói về phân bố của trung bình mẫu , không nói gì về hình dạng của bản thân các giá trị quan sát. Nếu tổng thể lệch phải, ta lấy thì biểu đồ dữ liệu vẫn lệch phải y như cũ; chỉ có phân bố các giá trị mới xích lại gần dáng chuông. Do đó câu hỏi về một cá nhân và câu hỏi về trung bình của một mẫu phải được xử lý bằng hai độ lệch chuẩn khác nhau: cho cá nhân và cho trung bình mẫu.
Tung độ của đường cong không phải là xác suất.
Với biến liên tục, xác suất nằm ở diện tích dưới đường cong mật độ (density curve), nên chiều cao tại một điểm chỉ là mật độ chứ không đọc thành xác suất được. Hệ quả trực tiếp là xác suất để biến nhận đúng một giá trị cụ thể luôn bằng , và vì thế với cho cùng một kết quả. Đây là điểm khác hẳn với biến rời rạc, nơi việc có lấy hay không lấy giá trị đầu mút làm thay đổi đáp số.
Điểm là vị trí, không phải xác suất.
Khi tính được , nhiều bài viết luôn "xác suất bằng 1.5" hoặc nộp thẳng con số này làm đáp án, trong khi chỉ cho biết giá trị nằm cách trung bình bao nhiêu độ lệch chuẩn. Công thức đưa mọi đường cong về phân phối chuẩn tắc (standard normal) có trung bình và độ lệch chuẩn ; muốn ra xác suất còn phải tra bảng hoặc dùng máy để lấy diện tích. Ngược lại, khi đề cho sẵn xác suất và hỏi ngưỡng điểm, ta phải đi ngược từ diện tích ra rồi giải .
Quiz câu thật từ ngân hàng đề
Vài câu thật gắn đúng khái niệm này, chấm ngay kèm giải thích từng đáp án — hệ thống ghi nhớ bạn nắm tới đâu.
Biên soạn bởi DucklingStudy, bản quyền thuộc DucklingStudy. Xuất bản .
Điểm (z-score) cho biết giá trị nằm cách trung bình bao nhiêu độ lệch chuẩn. Khi đã có , thí sinh tra bảng phân phối chuẩn tắc (standard normal table) để tìm xác suất hoặc phân vị tương ứng.
Trong đó
De Moivre sống bằng nghề tư vấn cho giới đánh bạc, nên ông thường phải tính những con số khổng lồ kiểu "xác suất được từ 60 mặt ngửa trở lên trong 100 lần tung". Ông nhận thấy khi số lần tung tăng lên, hình dáng của phân phối nhị thức (binomial distribution) tiến dần tới một đường cong rất trơn. Nếu tìm được biểu thức toán học cho đường cong ấy, mọi phép cộng dài dòng sẽ được thay bằng một phép tính duy nhất — và năm 1733 ông làm được đúng điều đó. Thomas Simpson sau này (1755) mở rộng ý tưởng sang các đại lượng đo liên tục, chẳng hạn vị trí một ngôi sao, nơi mỗi lần quan sát lại cho một con số hơi khác.
Vì sao mang đúng cái tên này? Chữ "chuẩn" nghe có vẻ hàm ý rằng mọi dữ liệu "bình thường" đều phải có dạng này, nhưng lịch sử của nó khiêm tốn hơn nhiều. Ứng dụng sớm nhất của đường cong là mô tả sai số đo lường (errors of measurement) trong quan sát thiên văn: Galileo đã nhận ra ở thế kỷ 17 rằng các sai số này đối xứng và sai số nhỏ xuất hiện nhiều hơn sai số lớn, còn đến đầu thế kỷ 19 thì Adrain (1808) và Gauss chỉ ra chúng tuân theo đúng đường cong ấy. Vì vậy trong một thời gian dài người ta gọi nó là "đường cong sai số", hoặc "đường cong Laplace–Gauss". Tên gọi hiện nay đi qua Francis Galton. Năm 1877 ông mới dùng thoáng qua cụm "deviated normally" một lần và vẫn đặt tên cho quy luật này là "law of deviation", nhưng sang thập niên 1880 ông dùng chữ "normal" một cách hệ thống: chương 5 cuốn Natural Inheritance (1889) mang tên "Normal Variability". Galton không giải thích vì sao chọn chữ đó. Karl Pearson thì viết dứt khoát trong một bài báo năm 1894 rằng từ nay bất kỳ đường cong tần số nào có thể coi như đường cong sai số sẽ được gọi là "a normal curve", và chính việc ông dùng thuật ngữ này nhất quán trong các công trình có ảnh hưởng lớn đã khiến cả giới thống kê theo. Điều trớ trêu là một chủ đề chính trong nghiên cứu của Pearson lại là chứng minh rằng dữ liệu thực tế thường không tuân theo phân phối chuẩn (normal distribution). Cái tên dân dã "đường cong hình chuông" (bell curve) thì gắn với hình dáng, và trở nên nổi tiếng rộng rãi từ năm 1994 khi Richard Herrnstein cùng Charles Murray xuất bản cuốn The Bell Curve, lấy tên từ phân bố điểm IQ và in luôn hình đường cong lên bìa sách.
Kéo hai núm μ và σ — xem đường cong dời chỗ, bè ra, mà diện tích trong μ ± σ vẫn là 0,68
Kéo tham số, thấy khái niệm chuyển động — mở khoá bằng tài khoản 0đ.
Vẽ hình chuông và tô vùng diện tích trước khi bấm máy.
Một hình có trục ghi rõ trung bình, giá trị mốc và phần được tô là bằng chứng cho giám khảo thấy bạn hiểu mình đang tìm diện tích nào, đồng thời giúp chính bạn phát hiện lỗi tô nhầm bên trái thay vì bên phải. Nhiều bài mất điểm chỉ vì lấy phần bù ngược, mà lỗi này gần như không xảy ra nếu đã có hình trước mắt.
Ghi lời cùng với số khi dùng máy tính.
Đáp án chỉ có dòng normalcdf(65, 1E99, 64, 2.7) trần trụi thường bị trừ điểm giao tiếp; phải kèm câu nêu rõ phân bố đang dùng và tham số của nó, chẳng hạn với là chiều cao của một học sinh nữ. Cuối cùng, trả lời bằng một câu có ngữ cảnh và đơn vị, ví dụ "khoảng 35.5% học sinh nữ cao hơn 65 inch".
Đọc kỹ đề hỏi về một cá thể hay về trung bình của mẫu.
Nếu đề nói "một học sinh được chọn ngẫu nhiên" thì dùng ; nếu đề nói "trung bình của 25 học sinh" thì mẫu số phải có . Đổi nhầm hai trường hợp này là lỗi phổ biến nhất ở phần chuẩn, và nó kéo theo sai toàn bộ các ý sau của câu.
Đỉnh đường cong ứng với tuổi thọ trung bình 74,3 năm, còn hai điểm uốn nằm tại 64,6 năm và 84,0 năm. Khoảng từ 54,9 đến 93,7 năm chính là nên chứa xấp xỉ 95% dân số, trong khi chỉ khoảng 16% số người vượt quá 84,0 năm. Một người sống 90 năm có điểm chuẩn hóa , nghĩa là thọ hơn mức trung bình của quốc gia này khoảng 1,62 độ lệch chuẩn.
Đường cong vừa có trung bình nhỏ hơn (đỉnh lệch trái) vừa có độ lệch chuẩn nhỏ hơn (cao và hẹp hơn). Với trường thứ ba, khoảng biến thiên 60 điểm tương ứng với chừng bốn đến sáu độ lệch chuẩn, nên 12,5 là ước lượng hợp lý nhất cho độ lệch chuẩn. Cần lưu ý rằng cách ước lượng nhanh này chỉ dùng được khi phân bố thực sự gần với hình chuông, vì nó dựa hoàn toàn vào hình dạng đặc trưng của đường cong chuẩn.