AP Statistics
observed values

Giá trị quan sát (observed values) là số liệu thực tế đo hoặc đếm được từ dữ liệu, dùng làm cơ sở so sánh với giá trị lý thuyết dự đoán.
Trong thống kê, giá trị quan sát (observed values) là kết quả đo lường hoặc đếm trực tiếp từ dữ liệu thực tế. Khái niệm này xuất hiện ở nhiều nhánh khác nhau của chương trình, nhưng vai trò cốt lõi của nó là làm cơ sở để so sánh với một giá trị được tính toán theo lý thuyết. Do đó, sự chênh lệch giữa hai loại giá trị này chính là nơi suy luận thống kê bắt đầu.
Trong hồi quy tuyến tính, mỗi điểm dữ liệu có là giá trị quan sát, còn là giá trị dự báo theo đường hồi quy (regression line). Phần dư được định nghĩa là , tức là khoảng cách theo chiều đứng từ điểm thực tế đến đường thẳng. Vì vậy, phương pháp hồi quy bình phương tối thiểu chọn đường thẳng sao cho tổng đạt giá trị nhỏ nhất, và toàn bộ ý nghĩa của phương pháp này đều xoay quanh việc thu hẹp khoảng cách giữa giá trị quan sát và giá trị dự báo.
Trong kiểm định Chi-square, giá trị quan sát là tần số thực đếm được trong từng ô của bảng phân phối, còn giá trị kỳ vọng là tần số lý thuyết tính dưới giả thuyết không (null hypothesis). Thống kê kiểm định (test statistic) được xây dựng từ hiệu của hai đại lượng này theo công thức , trong đó tổng lấy trên tất cả các ô. Nếu các giá trị quan sát xấp xỉ các giá trị kỳ vọng, thống kê này nhỏ và không đủ bằng chứng để bác bỏ giả thuyết không. Ngược lại, khi sai lệch lớn, thống kê tăng cao và giá trị p giảm, cho thấy dữ liệu khó xảy ra nếu giả thuyết không đúng.
Trực giác: Giá trị quan sát là chiều cao thực tế bạn đo được của từng học sinh trong lớp, khác với chiều cao trung bình mà sách giáo khoa dự đoán cho lứa tuổi đó.
cuối thế kỷ 16Tycho BraheEdward WrightSimon Stevin
Vào thế kỷ 16, các nhà thiên văn và nhà hàng hải liên tục vấp phải cùng một rắc rối: đo vị trí một thiên thể mười lần thì được mười kết quả lệch nhau. Tycho Brahe là người sớm đưa cách lấy trung bình vào thiên văn nhằm giảm sai số trong các ước lượng vị trí thiên thể, và việc tính toán trở nên dễ thở hơn sau khi Simon Stevin đề xuất hệ thập phân năm 1585. Ít lâu sau, trong cuốn sách về hàng hải "Certaine Errors in Navigation" (1599), Edward Wright bàn đến việc xác định vị trí bằng la bàn và cho rằng có một giá trị đáng tin nhất nằm giữa cả dãy số đo thu được. Từ đó, dãy con số thực sự đo được trở thành đối tượng nghiên cứu riêng, chứ không còn là thứ phải vứt bớt.
Kiểm định khi bình phương dùng số đếm, không dùng phần trăm hay tỉ lệ.
Đề bài rất hay cho sẵn bảng dữ liệu dưới dạng tỉ lệ phần trăm của từng cột, và học sinh bê thẳng các số 32%, 18%, 50% vào công thức. Làm vậy là hỏng ngay từ bước đầu, vì mọi giá trị quan sát phải là số lần đếm được của một kết cục trong thí nghiệm hoặc khảo sát. Muốn dùng bảng phần trăm thì phải nhân ngược trở lại với cỡ mẫu để khôi phục số đếm, chẳng hạn 32% của 250 người cho quan sát. Chỉ khi bảng đã trở về số nguyên đếm được thì thống kê kiểm định mới có ý nghĩa.
Mẫu số trong công thức là giá trị kỳ vọng (expected values), không phải giá trị quan sát.
Công thức đúng là trong đó là số đếm thực tế thu được và là số đếm mà mô hình dự đoán nếu giả thuyết không đúng. Chia cho chứ không chia cho vì ta muốn đo độ lệch tương đối so với cái mà lý thuyết chờ đợi, và cũng vì hoàn toàn có thể bằng 0 khiến phân số vô nghĩa. Nhiều bạn viết nhầm mẫu số rồi vẫn ra một con số trông hợp lý, nên lỗi này rất khó tự phát hiện nếu không ghi rõ bảng và ra giấy trước khi bấm máy.
Điều kiện đếm lớn (large counts condition) kiểm tra trên giá trị kỳ vọng, không phải trên giá trị quan sát.
Học sinh thường nhìn vào bảng dữ liệu gốc, thấy ô nào cũng trên 5 rồi kết luận điều kiện thỏa mãn. Tuy nhiên yêu cầu của phân bố khi bình phương là mọi , và chuyện một ô có nhưng xảy ra thường xuyên hơn ta tưởng. Vì vậy phải tính toàn bộ bảng kỳ vọng trước, rồi mới viết câu kiểm tra điều kiện; đảo thứ tự này là mất điểm phần kiểm tra giả định dù kết luận cuối cùng đúng.
Giá trị quan sát luôn là số nguyên, còn giá trị kỳ vọng thì không cần làm tròn.
Đây là chỗ hai khái niệm khác nhau về bản chất: số đếm thực tế đương nhiên nguyên vì ta đếm người, đếm hạt, đếm phiếu; còn kỳ vọng chỉ là một con số trung bình lý thuyết nên là hoàn toàn bình thường. Nhiều bạn thấy "18,75 người" thì thấy vô lý và làm tròn thành 19 trước khi thay vào công thức. Sai lệch nhỏ ở từng ô cộng dồn qua cả bảng có thể đẩy lệch đủ để đổi kết luận, nên hãy giữ nguyên giá trị chưa làm tròn suốt quá trình tính.
Quiz câu thật từ ngân hàng đề
Vài câu thật gắn đúng khái niệm này, chấm ngay kèm giải thích từng đáp án — hệ thống ghi nhớ bạn nắm tới đâu.
Biên soạn bởi DucklingStudy, bản quyền thuộc DucklingStudy. Xuất bản .
Vì sao mang đúng cái tên này? Tên gọi xuất phát từ chính hành động quan sát: đây là những con số ta thật sự ghi được khi đo, đếm hay khảo sát, phân biệt với những con số mà lý thuyết bảo rằng "lẽ ra phải thấy". Thế đối lập ấy trở nên rõ ràng khi Christiaan Huygens đưa ra giá trị kỳ vọng (expected value) năm 1657 trong chuyên luận đầu tiên về xác suất: một bên là con số tính từ mô hình, một bên là con số thu về từ thực tế. Về sau, khi Ronald Fisher xây dựng nền móng cho kiểm định giả thuyết (hypothesis testing) trong "Statistical Methods for Research Workers" (1925), cách đặt vấn đề vẫn giữ nguyên tinh thần đó — người ta hỏi liệu giá trị quan sát được của một đại lượng thống kê có đáng ngạc nhiên hay không nếu giả thuyết là đúng, và câu trả lời được đo bằng giá trị p (p-value). Nhờ vậy, cụm từ tưởng chừng tầm thường này luôn hàm ý một sự đối chiếu: quan sát so với kỳ vọng.
Sửa một ô số đếm — nhìn cả bảng kỳ vọng nhúc nhích theo
Kéo tham số, thấy khái niệm chuyển động — mở khoá bằng tài khoản 0đ.
Viết cả bảng giá trị quan sát và bảng giá trị kỳ vọng ra giấy, kèm một phép tính mẫu.
Giám khảo chấm phần "mechanics" dựa vào chỗ này, và chỉ cần bạn ghi với một ô cụ thể được thay số là đã có điểm, ngay cả khi bấm máy sai ở bước sau. Với bảng hai chiều (two-way table) nhập vào ma trận của máy tính, đừng quên rằng máy trả về bảng kỳ vọng ở matrix B — hãy chép lại ít nhất vài ô vào bài làm thay vì chỉ viết mỗi con số .
Khi đề hỏi ô nào đóng góp nhiều nhất, so sánh chứ không so sánh hiệu .
Một ô lệch 20 đơn vị trên nền kỳ vọng 400 đóng góp ít hơn hẳn một ô lệch 8 đơn vị trên nền kỳ vọng 10, vì thống kê này cân độ lệch theo quy mô của ô. Sau khi chỉ ra ô lớn nhất, phải nói thêm chiều của nó: giá trị quan sát cao hơn hay thấp hơn kỳ vọng, và điều đó nghĩa là gì trong ngữ cảnh bài toán.
Kết luận phải nhắc lại ngữ cảnh và không được nói kiểm định chỉ ra nhóm nào cao hơn.
Thống kê khi bình phương chỉ trả lời có bằng chứng về sự khác biệt hay mối liên hệ hay không, chứ tự nó không cho biết hướng của khác biệt. Do đó câu kết chuẩn có dạng "vì -value , ta bác bỏ ; có bằng chứng thuyết phục rằng…" rồi mới dùng việc so sánh từng ô quan sát với kỳ vọng để mô tả sự khác biệt đó.
Đường hồi quy là . Ứng với ba mức chi phí quảng cáo , , triệu đồng, mô hình dự đoán doanh thu , , chục triệu, trong khi doanh thu quan sát được là , , chục triệu; sai lệch lần lượt là , , chục triệu. Tuần thứ hai mô hình dự đoán cao hơn thực tế, hai tuần còn lại dự đoán thấp hơn thực tế. Giá trị nhỏ nhất có thể của tổng bình phương các khoảng cách thẳng đứng là , đạt được đúng tại đường hồi quy này.
Vì với cho , có bằng chứng thuyết phục rằng giới tính và lựa chọn môn câu lạc bộ không độc lập với nhau ở trường này. Nguồn đóng góp lớn nhất vào thống kê là ô Toán: nam có 40 em chọn trong khi mô hình độc lập chỉ tiên đoán 30 em, còn nữ chỉ có 20 em so với 30 em tiên đoán. Nói cách khác, chính khoảng cách giữa giá trị quan sát và giá trị kỳ vọng ở hai ô này đã dẫn tới kết luận bác bỏ.