AP Statistics
one-sided test
Còn gọi: one-tailed test

Kiểm định một phía là kiểm định giả thuyết có giả thuyết đối chỉ nêu một hướng (lớn hơn hoặc nhỏ hơn), nên vùng bác bỏ nằm ở một đuôi phân phối.
Khi kiểm định một nhận định về tham số, ta luôn viết cặp giả thuyết đối nghịch nhau. Giả thuyết không mang dạng đẳng thức, chẳng hạn , trong khi giả thuyết đối (alternative hypothesis) mang bất đẳng thức nghiêm ngặt. Nếu bất đẳng thức đó chỉ trỏ về một hướng duy nhất, tức là hoặc , thì ta đang làm kiểm định một phía, còn gọi là kiểm định một đuôi (one-tailed test).
Về mặt cơ chế, chỉ có một phía của phân phối mẫu là vùng nguy hiểm. Khi , thống kê kiểm định càng lớn càng bất lợi cho , nên giá trị p (p-value) được tính bằng trong đó là thống kê kiểm định chuẩn hóa. Câu này nghĩa là xác suất thu được thống kê lớn bằng hoặc hơn mức quan sát được, nếu đúng. Nhờ đó, cùng một bộ số liệu, giá trị p của kiểm định một phía chỉ bằng một nửa giá trị p của kiểm định hai phía tương ứng, vì vùng bác bỏ chỉ gom về một đuôi thay vì chia đôi cho hai đuôi.
Tuy nhiên, sức mạnh đó phải trả giá bằng sự ràng buộc chặt chẽ về cách đặt giả thuyết. Hướng của phải do câu hỏi nghiên cứu quyết định trước khi xem dữ liệu; nếu nhìn số liệu rồi mới chọn hướng để giá trị p nhỏ hơn, ta đã làm tăng sai lầm loại I (Type I error) ngoài mức ý nghĩa đã chọn. Vì vậy, khi kiểm định một phía với , giả thuyết không có thể viết — vế đẳng thức chính là trường hợp biên dùng để tính xác suất. Ngược lại, nếu đề chỉ hỏi "có khác nhau không" mà không nêu hướng, kiểm định hai phía mới là lựa chọn đúng.
Trực giác: Kiểm định một phía giống như trọng tài chỉ bắt lỗi xe vượt tốc độ chứ không bắt lỗi xe chạy quá chậm: chỉ một đầu của đường mới bị phạt.
Dùng khi kiểm định giả thuyết về tỉ lệ tổng thể trong kiểm định một phía: hoặc . Thống kê đo tỉ lệ mẫu lệch bao nhiêu sai số chuẩn so với giá trị giả thuyết, và P-value được tính từ một đuôi duy nhất của phân phối chuẩn.
Trong đó
đầu thế kỷ 20William Sealy GossetRonald Fisher
Bối cảnh của nó là một xưởng bia chứ không phải một giảng đường. Gosset, sinh ở Canterbury năm 1876, học hóa học và toán ở Oxford rồi vào làm cho Guinness ở Dublin, đúng lúc hãng này nhận ra rằng muốn giữ vị thế dẫn đầu thì phải nấu bia ở quy mô công nghiệp có kiểm soát chặt chẽ. Kiểm soát chất lượng như vậy đòi hỏi những kết luận rút ra từ mẫu nhỏ. Trong các bài toán kiểu ấy, người ta hiếm khi hỏi một cách trung lập, mà hỏi theo một chiều: giống lúa mạch mới có cho năng suất
Không được chọn chiều của giả thuyết đối sau khi đã nhìn thấy dữ liệu.
Chiều của giả thuyết đối (alternative hypothesis) phải xuất phát từ câu hỏi nghiên cứu, từ nghi ngờ có trước hoặc từ lời hứa của nhà sản xuất, chứ không phải từ việc trung bình mẫu tình cờ lớn hơn giá trị giả định. Nếu cứ thấy rồi mới viết , thí sinh đã âm thầm biến kiểm định hai phía (two-sided test) thành một phía và làm xác suất mắc sai lầm loại I (Type I error) thật sự lớn gấp đôi mức đã công bố. Người chấm coi đây là lỗi thiết kế, không phải lỗi tính toán, nên mất trọn điểm phần đặt giả thuyết.
Giá trị p của kiểm định một phía chỉ là diện tích MỘT đuôi, không nhân đôi.
Nhiều học sinh bấm máy ra kết quả rồi theo phản xạ nhân hai, hoặc ngược lại lấy kết quả hai phía của phần mềm mà quên chia đôi. Với thì giá trị p (p-value) là ; còn kiểm định hai phía mới là . Do đó khi chuyển từ bảng kết quả hai phía sang kết luận một phía, phải chia đôi và đồng thời kiểm tra dấu của có đúng chiều đã nêu trong giả thuyết đối hay không.
Dữ liệu đi ngược chiều giả thuyết đối thì dừng lại, không tính tiếp.
Giả sử đề hỏi thuốc mới có làm giảm huyết áp không, tức , nhưng mẫu lại cho lớn hơn ; khi ấy giá trị p chắc chắn lớn hơn và không đời nào bác bỏ được giả thuyết gốc. Sai lầm phổ biến là lấy diện tích đuôi bên phải cho gọn rồi tuyên bố có bằng chứng mạnh, trong khi bằng chứng đang chống lại chính điều mình muốn chứng minh. Vì vậy hãy vẽ đường cong và tô đuôi theo đúng chiều mũi tên trong trước khi bấm máy.
Khoảng tin cậy 95% không tương ứng với kiểm định một phía ở mức .
Khoảng tin cậy hai phía chia đều cho hai đuôi, mỗi bên , nên nó khớp với kiểm định hai phía chứ không khớp với một phía. Muốn dùng khoảng để đối chiếu với kiểm định một phía ở mức thì phải dùng khoảng , vì lúc đó mỗi đuôi mới đúng . Tuy nhiên cách đối chiếu này chỉ là kiểm tra phụ; trong bài thi vẫn phải trình bày đủ quy trình kiểm định chứ không được thay thế bằng một khoảng tin cậy.
Quiz câu thật từ ngân hàng đề
Vài câu thật gắn đúng khái niệm này, chấm ngay kèm giải thích từng đáp án — hệ thống ghi nhớ bạn nắm tới đâu.
Biên soạn bởi DucklingStudy, bản quyền thuộc DucklingStudy. Xuất bản .
Trong kiểm định một phía, P-value là diện tích dưới đường cong chuẩn chỉ ở một đuôi — đuôi trái nếu , đuôi phải nếu . So sánh P-value với mức ý nghĩa để quyết định bác bỏ hay không bác bỏ giả thuyết không.
Trong đó
Vì sao mang đúng cái tên này? Cái tên đến từ hình dạng của đường cong phân phối. Vùng bác bỏ nằm ở phần cực trị của phân phối, nơi đường cong mỏng dần và tiến về không, nên phần đó được gọi là "đuôi" (tail) — từ đây sinh ra tên gọi kiểm định một đuôi (one-tailed test). Vì mỗi đuôi cũng chính là một bên của đồ thị, cách gọi "một phía" ra đời song song và nhấn vào ý nghĩa thống kê: giả thuyết đối (alternative hypothesis) chỉ trỏ về một hướng duy nhất, tăng hoặc giảm, chứ không ôm cả hai. Ngược lại, khi ta quan tâm đến sai lệch theo cả hai hướng thì diện tích bác bỏ bị chia đôi cho hai đuôi, và ta có kiểm định hai phía (two-sided test). Cần nhớ rằng chữ "đuôi" mô tả hình ảnh của đường cong chuẩn quen thuộc, song bản thân kỹ thuật này vẫn dùng được cho những phân phối không chuẩn.
Giữ nguyên z = 1,6 rồi đổi hướng vùng tô — nhìn p-value nhảy từ 0,055 lên 0,945
Kéo tham số, thấy khái niệm chuyển động — mở khoá bằng tài khoản 0đ.
Viết giả thuyết bằng ký hiệu tham số và định nghĩa tham số đó bằng một câu.
Người chấm cần thấy và kèm dòng chữ cho biết là trung bình của tổng thể nào, đơn vị gì. Đặt giả thuyết theo hay là mất điểm ngay bước đầu, vì thống kê mẫu đã biết rồi thì chẳng có gì để kiểm định.
Nêu rõ chiều của đuôi khi báo cáo giá trị p, đừng chỉ thả một con số.
Câu an toàn là dạng: nếu giả thuyết gốc đúng, xác suất quan sát được kết quả lớn bằng hoặc hơn thế này là . Trên máy tính, nhớ chọn đúng mục tương ứng với chiều đã đặt, vì chọn nhầm mục hai phía sẽ cho số gấp đôi và có thể lật ngược kết luận ở gần ranh giới .
Kết luận phải trả lời lại đúng câu hỏi một phía của đề, kèm mức ý nghĩa và ngữ cảnh.
Viết theo mẫu: vì , ta bác bỏ giả thuyết gốc và có bằng chứng thuyết phục rằng trung bình thực sự LỚN HƠN giá trị đã nêu. Tránh hai lỗi kinh điển là nói đã chứng minh giả thuyết đối đúng, và nói chấp nhận giả thuyết gốc khi lớn — trường hợp đó chỉ là không đủ bằng chứng.
Ở mức ý nghĩa , giá trị P một phía bằng nhỏ hơn nên ta bác bỏ : dữ liệu cung cấp bằng chứng thuyết phục rằng tỉ lệ nảy mầm thật sự của lô hạt giống nhỏ hơn 0,90 như bao bì công bố. Tuy nhiên nếu câu hỏi ban đầu chỉ là "tỉ lệ thật có khác 0,90 hay không" thì kiểm định hai phía cho và ta không bác bỏ được — cùng một bộ dữ liệu, hai kết luận khác nhau, tùy vào hướng của giả thuyết đối đã đặt ra từ trước.
Với và , ta bác bỏ giả thuyết không: dữ liệu cung cấp bằng chứng thuyết phục rằng năng suất trung bình thật sự của giống lúa mới cao hơn giống lúa cũ. Giá trị P bằng nghĩa là nếu hai giống thực sự cho năng suất trung bình như nhau thì chỉ khoảng 2,3% số lần lấy mẫu cho kết quả nghiêng về giống mới mạnh bằng hoặc mạnh hơn kết quả đã quan sát.