AP Chemistry
metal
Còn gọi: nguyên tố kim loại · metallic elements · metals

Kim loại là nguyên tố dễ nhường electron lớp ngoài cùng để tạo ion dương, có tính dẫn điện, dẫn nhiệt tốt, ánh kim và tính dẻo.
Kim loại là những nguyên tố mà nguyên tử của chúng chỉ có một vài điện tử ở lớp vỏ ngoài cùng. Vì số điện tử hóa trị (valence electrons) ít và năng lượng ion hóa (ionization energy) thấp, nguyên tử kim loại nhường điện tử một cách dễ dàng để tạo thành ion dương. Quá trình này được mô tả bằng phương trình tổng quát:
trong đó M là nguyên tử kim loại, là số điện tử mà nguyên tử nhường đi, còn là ion dương tạo thành. Do đó, chính xu hướng nhường điện tử này khiến kim loại đóng vai trò là chất khử trong các phản ứng oxi hóa–khử (redox reaction).
Ngoài ra, bên cạnh đặc điểm hóa học ấy, nhờ mạng lưới điện tử tự do di chuyển trong tinh thể mà kim loại còn sở hữu hàng loạt tính chất vật lý đặc trưng. Dòng điện tử tự do đảm nhiệm việc truyền điện tích và truyền động năng, vì vậy kim loại dẫn điện và dẫn nhiệt rất tốt. Ngược lại với phi kim vốn giòn và dễ vỡ, kim loại có tính dẻo vì các lớp nguyên tử có thể trượt lên nhau mà liên kết kim loại không bị phá vỡ. Hơn nữa, bề mặt kim loại phản xạ hầu hết bước sóng ánh sáng nhìn thấy, tạo nên vẻ sáng bóng gọi là ánh kim.
Đồng thời, trong bảng tuần hoàn, kim loại chiếm hơn ba phần tư diện tích, trải rộng từ nhóm IA đến các nguyên tố họ f. Các kim loại chuyển tiếp có phân lớp hoặc đang được lấp đầy ở lớp bên trong, nhờ vậy chúng tạo ra nhiều trạng thái oxi hóa khác nhau. Theo xu hướng tuần hoàn, tính kim loại tăng từ phải sang trái trong mỗi chu kỳ và tăng từ trên xuống trong mỗi nhóm, bởi vì bán kính nguyên tử lớn dần làm năng lượng ion hóa giảm đi.
Trực giác: Hãy tưởng tượng một nhóm người đứng giữa một bể nước — nước tràn ngập và chảy tự do quanh tất cả mọi người, gắn kết cả nhóm lại — các electron tự do trong kim loại cũng di chuyển tự do khắp mạng tinh thể như vậy.
Kim loại dẫn điện không phải vì "electron chạy trong dây" theo kiểu ion di chuyển.
Trong mô hình biển electron (sea of electrons), các electron hóa trị bị tách khỏi từng nguyên tử riêng lẻ và giải tỏa (delocalized) trên toàn khối mạng cation. Chính sự giải tỏa này, chứ không phải sự dịch chuyển của hạt nhân hay ion, cho phép điện tích truyền đi khi đặt hiệu điện thế. Khi câu hỏi yêu cầu giải thích tính dẫn điện, bài làm phải viết rõ hai chữ "mobile" và "delocalized valence electrons"; nói chung chung rằng kim loại "có electron tự do" thường không đủ để lấy trọn điểm.
Tính dát mỏng của kim loại không do liên kết kim loại yếu.
Nhiều bạn lập luận rằng vì kim loại dễ uốn nên lực hút trong đó phải nhỏ, nhưng điểm nóng chảy của sắt hay vonfram cho thấy điều ngược lại. Kim loại dát mỏng được vì liên kết trong nó không có hướng: khi các lớp cation trượt lên nhau, biển electron lập tức điều chỉnh và lực hút vẫn được duy trì. Ngược lại, tinh thể ion vỡ vụn khi trượt vì các ion cùng dấu bị đẩy nhau, và đây chính là điểm so sánh mà đề hay yêu cầu nêu ra.
Đừng viết công thức phân tử cho kim loại rắn hay hợp kim.
Kim loại nguyên chất được biểu diễn bằng ký hiệu nguyên tố kèm trạng thái, chẳng hạn , chứ không phải ; hợp kim (alloy) là hỗn hợp đồng thể chứ không phải hợp chất nên cũng không có công thức xác định. Trong hợp kim thay thế (substitution alloy) các nguyên tử có bán kính gần nhau thay chỗ cho nhau, còn trong hợp kim xen kẽ (interstitial alloy) nguyên tử nhỏ như carbon chui vào khe hở giữa các nguyên tử lớn. Nhớ hệ quả kèm theo: xen kẽ làm mạng khó trượt hơn nên hợp kim cứng hơn và kém dát mỏng hơn kim loại gốc.
Kim loại tạo cation nhưng không phải kim loại nào cũng phản ứng với acid.
Xu hướng nhường electron được quyết định bởi năng lượng ion hóa (ionization energy) thấp, và điều đó giải thích vì sao kim loại nhóm IA, IIA hoạt động mạnh. Tuy nhiên, việc một kim loại có bị hòa tan hay không phải tra bảng thế điện cực chuẩn: nếu thế khử của cặp kim loại dương hơn , như bạc hay đồng, thì phản ứng với không tự diễn biến. Do đó khi gặp câu hỏi về bạc hay đồng, hãy dùng lập luận thay vì suy đoán theo cảm tính rằng "kim loại thì tan trong acid".
Quiz câu thật từ ngân hàng đề
Vài câu thật gắn đúng khái niệm này, chấm ngay kèm giải thích từng đáp án — hệ thống ghi nhớ bạn nắm tới đâu.
Biên soạn bởi DucklingStudy, bản quyền thuộc DucklingStudy. Xuất bản .
Giải thích tính chất kim loại phải nêu đủ: điện tích cation, số electron giải tỏa, bán kính nguyên tử.
Giám khảo chấm theo lập luận về lực hút tĩnh điện, nên câu trả lời cần nói rõ rằng cation điện tích lớn hơn và bán kính nhỏ hơn sẽ hút biển electron mạnh hơn, dẫn tới điểm nóng chảy cao hơn. Chẳng hạn khi so sánh với , phải nêu có điện tích gấp đôi và đóng góp hai electron hóa trị thay vì một. Chỉ nói "liên kết kim loại của magnesium mạnh hơn" là mô tả lại kết luận chứ chưa giải thích, và thường mất điểm.
Ở câu thực nghiệm tính khối lượng mol của kim loại, phải ghi rõ tỉ lệ mol electron.
Đề thường cho kim loại phản ứng với acid rồi đo thể tích khí hydrogen, hoặc cho điện phân rồi cân khối lượng bám vào điện cực; cả hai đều cần biết kim loại nhường mấy electron. Trình bày theo chuỗi: từ dữ kiện tính số mol hoặc điện lượng , chia cho số electron trao đổi để ra số mol kim loại, rồi lấy . Nếu bỏ qua bước chia theo hệ số electron, đáp số sẽ lệch đúng hai hoặc ba lần và mất phần lớn điểm của câu.
Đừng quên đơn vị và chữ số có nghĩa khi báo cáo kết quả về kim loại.
Bài tính khối lượng mol phải kèm , bài nhiệt lượng phải kèm hoặc , và số chữ số có nghĩa lấy theo dữ kiện kém chính xác nhất. Ngoài ra, khi kết luận nguyên tố là nguyên tố nào, hãy so khối lượng mol tính được với bảng tuần hoàn rồi viết một câu nhận định rõ ràng. Bỏ trống bước kết luận này là cách mất điểm đáng tiếc nhất, vì phần tính toán đã đúng.
Khí thu được là mol, ứng với khối lượng mol của bằng 65,4 g/mol, nên chính là kẽm. Kẽm dẫn điện và dát mỏng được nhờ biển electron phi định xứ trong liên kết kim loại, còn rắn giòn và cách điện vì các ion bị khóa chặt tại nút mạng. Đồng không phản ứng với do thế khử của dương hơn của , tức đồng là kim loại kém hoạt động hơn hydrogen.
Phản ứng xảy ra theo với hết trước, tạo 0,539 g bạc kim loại và làm dây nặng thêm 0,380 g. Kết quả khẳng định đồng là kim loại hoạt động hơn bạc: nó nhường electron để khử thành , đúng thứ tự trong dãy hoạt động hóa học.