AP Statistics
tree diagram

Sơ đồ cây là công cụ đồ thị dùng để liệt kê có hệ thống tất cả các kết quả có thể xảy ra trong một thí nghiệm xác suất qua nhiều giai đoạn.
Sơ đồ cây (tree diagram) được xây dựng bằng cách vẽ các nhánh xuất phát từ một gốc, và mỗi nhánh đại diện cho một kết quả ở giai đoạn đầu tiên. Sau đó, từ mỗi nhánh đó, người ta lại kẻ tiếp các nhánh con tương ứng với các kết quả có thể xảy ra ở giai đoạn tiếp theo. Do đó, mỗi đường đi từ gốc đến một lá cuối cùng xác định một kết quả hoàn chỉnh của toàn bộ thí nghiệm.
Đặc điểm nổi bật của sơ đồ cây là khả năng tích hợp xác suất có điều kiện (conditional probability) trực tiếp lên từng nhánh. Cụ thể, xác suất ghi trên nhánh đầu là xác suất của sự kiện ở giai đoạn một, còn xác suất ghi trên các nhánh con là xác suất của sự kiện ở giai đoạn hai khi đã biết kết quả ở giai đoạn một. Nhờ vậy, để tính xác suất của một đường đi cụ thể, ta nhân các xác suất dọc theo đường đó theo quy tắc nhân tổng quát trong đó là xác suất của sự kiện khi biết đã xảy ra.
Cuối cùng, sau khi có xác suất của từng đường đi, người ta cộng các đường đi cùng dẫn đến một sự kiện để tìm xác suất tổng. Đây chính là nền tảng để tính xác suất ngược, tức là từ kết quả quan sát được suy ngược lại nguyên nhân, một dạng bài xuất hiện thường xuyên trong đề thi. Vì vậy, sơ đồ cây không chỉ là công cụ liệt kê mà còn là bộ khung tổ chức tính toán cho những bài toán xác suất nhiều tầng phức tạp.
Trực giác: Hình dung bạn đứng ở ngã tư, rẽ trái hoặc rẽ phải; tại mỗi đường bạn chọn lại gặp một ngã tư khác — sơ đồ cây vẽ toàn bộ hành trình có thể đi và ghi xác suất lên mỗi khúc đường.
Dùng khi đọc kết quả trên một đường đi của sơ đồ cây: nhân xác suất từng nhánh dọc theo đường đó để ra xác suất của giao hai sự kiện.
Trong đó
Dùng để cộng xác suất của một sự kiện kết quả B qua tất cả các nhánh dẫn tới nó — tức là áp dụng quy tắc xác suất toàn phần (law of total probability) sau khi đã nhân xác suất trên từng đường đi.
1296 (Arbor scientiae) — tên gọi được ghi nhận từ 1965Ramon LlullCharles DarwinNoam Chomsky
Đi dọc một nhánh thì nhân, không cộng.
Mỗi đường đi từ gốc ra tới lá của sơ đồ mô tả một chuỗi biến cố xảy ra đồng thời, nên xác suất của đường đi đó là tích các con số ghi trên các đoạn nhánh: . Công thức này nói rằng muốn cả lẫn cùng xảy ra thì trước hết phải xảy ra, rồi phải xảy ra trong điều kiện đã có . Phép cộng chỉ dùng ở bước sau cùng, khi ta gom nhiều lá khác nhau cùng thỏa mãn một mô tả, chẳng hạn "có đúng một sản phẩm lỗi" ứng với hai lá riêng biệt. Do đó thứ tự đúng luôn là nhân dọc trước, cộng ngang sau.
Con số trên nhánh tầng hai là xác suất có điều kiện (conditional probability), không phải xác suất của lá.
Học sinh hay chép thẳng con số ghi trên nhánh thứ hai làm đáp án cho câu hỏi "xác suất chọn được người vừa thuộc nhóm A vừa mắc bệnh". Thật ra chỉ có nghĩa bên trong nhóm A, tức là nó đã giả định ta đang đứng ở nút A rồi; muốn ra xác suất giao thì phải nhân nó với xác suất tới được nút A. Ngược lại, giá trị ghi ở đầu mút mỗi lá mới là xác suất giao và tổng tất cả các lá phải bằng . Vì vậy hãy tự hỏi mỗi lần nhìn một con số: "nó tính trong toàn bộ tổng thể, hay chỉ trong một nhánh?"
Đề hỏi ngược chiều điều kiện thì phải chia, không được đọc thẳng trên nhánh.
Sơ đồ cây thường được vẽ theo chiều "nguyên nhân trước, kết quả sau", nên nó cho sẵn ; nhưng câu hỏi thực tế lại là "đã dương tính, xác suất thật sự có bệnh là bao nhiêu?". Hai đại lượng này khác hẳn nhau và việc lẫn lộn chúng là lỗi kinh điển ở phần định lý Bayes (Bayes' theorem). Cách làm an toàn là dùng định nghĩa : tử số là một lá, còn mẫu số là tổng tất cả các lá có kết quả . Nhờ đó bài toán quy về việc cộng vài lá rồi chia, không cần nhớ công thức Bayes dạng dài.
Lấy mẫu không hoàn lại thì xác suất ở tầng sau phải thay đổi.
Với hộp có 5 bi đỏ và 3 bi xanh, nhánh đầu ghi , nhưng nếu đã rút một bi đỏ ra và không bỏ lại thì nhánh tiếp theo phải là chứ không còn là . Rất nhiều lời giải chép nguyên mẫu số cũ cho cả hai tầng, biến bài lấy mẫu không hoàn lại (without replacement) thành bài độc lập và cho ra đáp án sai. Một cách kiểm tra nhanh là cộng các nhánh xuất phát từ cùng một nút: tổng luôn phải bằng , nếu không thì sơ đồ đã hỏng ngay từ khâu ghi số.
Quiz câu thật từ ngân hàng đề
Vài câu thật gắn đúng khái niệm này, chấm ngay kèm giải thích từng đáp án — hệ thống ghi nhớ bạn nắm tới đâu.
Biên soạn bởi DucklingStudy, bản quyền thuộc DucklingStudy. Xuất bản .
Trong đó
Vì sao mang đúng cái tên này? Cái tên đến từ hình dáng: một thân chính tách ra thành nhiều nhánh, mỗi nhánh lại tách tiếp, đúng như dáng cây. Điều trớ trêu là sơ đồ thường bị vẽ ngược so với cây thật, gốc nằm ở trên đỉnh còn các "lá" rủ xuống dưới, hoặc trong bài toán xác suất thì gốc nằm bên trái và các nhánh trải sang phải. Thuật ngữ tiếng Anh mãi mới được chuẩn hóa: từ điển Oxford ghi nhận cả "tree structure" lẫn "tree-diagram" xuất hiện năm 1965 trong công trình về lý thuyết cú pháp của Noam Chomsky, nơi ông dùng cây để tách một câu thành các thành phần nhỏ dần. Vì vậy, khi bạn vẽ cây cho hai lần tung đồng xu, bạn đang mượn lại đúng cái hình ảnh mà triết học, sinh học tiến hóa và ngôn ngữ học đều đã dùng trước đó.
Bấm một nhánh — nhìn xác suất nhân dọc đường từ gốc tới lá
Kéo tham số, thấy khái niệm chuyển động — mở khoá bằng tài khoản 0đ.
Ghi nhãn đầy đủ cho mọi nhánh trước khi tính, kể cả nhánh phần bù.
Giám khảo chấm cả phần trình bày, nên một sơ đồ có ghi rõ tên biến cố và con số trên từng đoạn đã tự nó là lời giải thích cho các phép nhân phía sau. Nếu bỏ quên nhánh "không mắc bệnh" hay "âm tính", bạn sẽ thiếu lá khi cộng mẫu số ở câu hỏi điều kiện ngược và mất trọn điểm phần đó. Vẽ đủ hai nhánh ở mỗi nút mất thêm mười giây nhưng cứu được cả câu.
Viết ký hiệu xác suất bằng lời của bài toán, đừng chỉ để lại dãy số.
Câu trả lời dạng trơ trọi thường chỉ được điểm một phần, trong khi cho thấy bạn hiểu mình đang nhân cái gì với cái gì. Khi sang câu hỏi ngược, hãy viết rõ dòng rồi mới thay số, và nói một câu rằng mẫu số là tổng của các nhánh cùng cho kết quả dương tính. Cách trình bày này biến bài làm thành lập luận có đầu có cuối chứ không phải một chuỗi bấm máy.
Gặp cụm "given that" trong đề là dấu hiệu phải quay về mẫu số nhỏ hơn.
Cụm này thu hẹp tổng thể lại chỉ còn phần thỏa mãn điều kiện, nên bạn không được lấy toàn bộ làm mẫu số nữa mà phải cộng đúng những lá nằm trong phần đó. Ngược lại, những cụm như "and", "both" hay "đầu tiên… rồi sau đó…" báo hiệu một đường đi duy nhất trên cây và chỉ cần nhân. Tập phản xạ đọc từ khóa trước khi cầm bút sẽ tránh được kiểu nhầm phổ biến nhất: dùng đúng con số nhưng đặt sai chỗ trong phân số.
Xác suất một học sinh được chọn ngẫu nhiên đến muộn là , tức khoảng số học sinh của trường. Nếu biết trước rằng học sinh đó đến muộn thì xác suất em ấy đi xe buýt là khoảng , nghĩa là cứ mười học sinh đến muộn thì khoảng bốn em đi xe buýt. Con số lớn hơn hẳn ban đầu, cho thấy việc biết "em ấy đến muộn" đã làm thay đổi đáng kể nhận định về phương tiện đi lại của em.
Xác suất cả hai chiếc bút đều bị lỗi là ; xác suất có đúng một chiếc lỗi là ; và xác suất có ít nhất một chiếc lỗi trong hai chiếc rút ra là . Như vậy trong hơn sáu phần mười số lần kiểm tra, nhân viên sẽ phát hiện được ít nhất một chiếc bút hỏng. Toàn bộ lời giải chỉ dựa vào một thao tác lặp lại: nhân các xác suất dọc theo mỗi nhánh của sơ đồ cây, rồi cộng các nhánh cùng dẫn tới kết quả mà đề quan tâm.