AP Chemistry
electrochemical cell
Còn gọi: pin điện hóa

Tế bào điện hóa là thiết bị tách phản ứng oxi hóa–khử thành hai nửa ở hai điện cực, buộc electron chạy qua mạch ngoài.
Trong một phản ứng oxi hóa–khử thông thường, chất khử và chất oxi hóa tiếp xúc trực tiếp nên êlectron di chuyển ngay tại chỗ va chạm và toàn bộ năng lượng thoát ra dưới dạng nhiệt. Tế bào điện hóa thay đổi cách bố trí đó: hai nửa phản ứng bị đặt ở hai ngăn riêng, nối với nhau bằng một dây dẫn bên ngoài và một cầu muối (salt bridge). Bởi vì bị ngăn cách, êlectron không còn đường nào khác ngoài việc đi vòng qua mạch ngoài, và chính dòng êlectron đó là thứ ta đo được hoặc dùng được.
Điện cực nơi xảy ra sự oxi hóa gọi là anot, điện cực nơi xảy ra sự khử gọi là catot; êlectron luôn rời anot và chạy tới catot. Tuy nhiên, nếu chỉ có dòng êlectron thì hai ngăn sẽ tích điện trái dấu và dòng tắt gần như tức thì, vì vậy cầu muối phải cung cấp ion để trung hòa điện tích ở cả hai bên. Sức điện động chuẩn của pin được tính từ thế khử chuẩn của hai nửa:
Công thức này nói rằng hiệu thế của pin chỉ phụ thuộc bản chất hai cặp oxi hóa–khử, không phụ thuộc việc ta nhân hệ số cho nửa phản ứng.
Dấu của chia tế bào điện hóa thành hai loại. Khi , phản ứng tự diễn biến và tế bào tự sinh dòng, đó là pin Galvani — chính là pin trong đèn pin. Ngược lại, khi , ta phải dùng nguồn điện ngoài ép phản ứng chạy ngược, và thiết bị trở thành bình điện phân (electrolytic cell) dùng để mạ kim loại hay tách nhôm. Hơn nữa, mối liên hệ với nhiệt động học được gói trong , với là số mol êlectron trao đổi và là hằng số Faraday (Faraday's constant); nhờ đó thế pin dương luôn tương ứng với biến thiên năng lượng tự do âm.
Trực giác: Giống như bắt nước không chảy thẳng xuống dốc mà phải đi vòng qua cánh quạt tuabin, ta vẫn được đúng phản ứng đó nhưng lấy ra được công thay vì chỉ có nhiệt.
Dùng để tính suất điện động chuẩn của tế bào điện hóa khi biết thế khử chuẩn của hai điện cực; nếu thì phản ứng tự phát theo chiều thuận
Trong đó
1799Alessandro VoltaLuigi GalvaniMichael Faraday
Câu chuyện bắt đầu tại Đại học Bologna, khi nhà giải phẫu so sánh Luigi Galvani đang mổ một con ếch thì dụng cụ kim loại chạm vào dây thần kinh lộ ra ở chân ếch, và cái chân co giật. Hiện tượng ấy khiến người ta phải hỏi: dòng điện đến từ mô sống hay từ chính hai kim loại? Volta chọn vế thứ hai, và năm 1799 ông công bố thiết bị dùng đồng cùng một kim loại khác xếp chồng lên nhau — pin Volta, tế bào điện hóa đầu tiên. Nhờ đó lần đầu tiên con người có nguồn dòng điện ổn định thay vì các tia lửa tĩnh điện chớp tắt, và cả một ngành hóa học mới mở ra sau đó.
Không nhân thế khử chuẩn với hệ số cân bằng phản ứng.
Khi cân bằng , nhiều học sinh nhân với 2 rồi tính ra con số sai hoàn toàn. Thế khử chuẩn (standard reduction potential) là đại lượng cường tính, nó đo xu hướng nhận electron trên mỗi electron chứ không phụ thuộc lượng chất, nên nhân đôi phản ứng thì giữ nguyên. Cái duy nhất bị nhân đôi là trong , vì số mol electron trao đổi mới là đại lượng khuếch tính. Do đó bài trên vẫn dùng nhưng .
Không phải tế bào điện hóa nào cũng tự xảy ra.
Khái niệm này chỉ nói đến thiết bị cho electron của một phản ứng oxi hóa – khử đi qua mạch điện ngoài; nó gồm hai loại trái ngược nhau. Pin galvanic (galvanic cell) có và nên tự phóng điện, còn bình điện phân (electrolytic cell) có nên chỉ chạy khi ta cấp điện từ nguồn ngoài. Vì vậy khi đề cho , câu trả lời đúng không phải "phản ứng không xảy ra" mà là "phản ứng không thuận lợi về nhiệt động, cần nguồn điện ngoài".
Nhiệt độ cao không làm phản ứng phân hủy trở nên thuận lợi.
Với , nhiều học sinh thấy đề nói "nung chảy" rồi kết luận nhiệt đã đủ để tách thành và . Thực ra nhiệt độ cao chỉ để muối chuyển sang thể lỏng cho ion di chuyển được, tức là tạo điều kiện dẫn điện chứ không đổi dấu năng lượng Gibbs (Gibbs free energy) của phản ứng phân hủy. Sự phân hủy vẫn có và chỉ diễn ra sau khi đặt hiệu điện thế lên hai điện cực.
Đảo chiều nửa phản ứng thì phải đổi dấu , còn công thức trừ thì không.
Hai cách tính hay bị trộn vào nhau: hoặc dùng với cả hai giá trị lấy nguyên từ bảng khử, hoặc lật nửa phản ứng oxi hóa, đổi dấu của nó rồi cộng. Trộn hai cách — vừa đổi dấu vừa trừ — là lỗi làm mất điểm nhiều nhất ở dạng bài này. Hãy chọn một cách và ghi rõ ra giấy rằng chất bị oxi hóa nằm ở anôt (anode), chất bị khử nằm ở catôt (cathode).
Quiz câu thật từ ngân hàng đề
Vài câu thật gắn đúng khái niệm này, chấm ngay kèm giải thích từng đáp án — hệ thống ghi nhớ bạn nắm tới đâu.
Biên soạn bởi DucklingStudy, bản quyền thuộc DucklingStudy. Xuất bản .
Dùng để liên hệ giữa suất điện động của tế bào điện hóa và biến thiên năng lượng tự do Gibbs; khi thì phản ứng oxi hóa-khử tự phát và tế bào sinh công điện
Trong đó
Vì sao mang đúng cái tên này? Chữ "tế bào" (cell) nghe lạ tai với một thiết bị hóa học, nhưng nó chỉ ngăn chứa nhỏ đựng dung dịch và các điện cực — một đơn vị hoàn chỉnh, và nhiều đơn vị như vậy xếp chồng lên nhau thì thành pin Volta. Phần "điện hóa" (electrochemical) thì gắn với năm 1833, khi Faraday cùng vài người bạn dựng nên toàn bộ hệ thuật ngữ của lĩnh vực này: chất điện li (electrolyte), ion (ion) và điện cực (electrode) đều được đặt tên theo gốc Hy Lạp, cố ý chọn những chữ mô tả đúng sự kiện quan sát được trong phòng thí nghiệm mà không ràng buộc vào bất kỳ lý thuyết nào. Đó là lựa chọn khôn ngoan đến bất ngờ, bởi lúc ấy cấu trúc nguyên tử vẫn hoàn toàn chưa được biết, vậy mà bộ từ vựng ấy vẫn nguyên vẹn trong hóa học hiện đại. Riêng tên gọi "tế bào Volta" (voltaic cell) là cách hậu thế vinh danh Volta, còn "tế bào Galvani" (galvanic cell) nhắc tới con ếch của Galvani — hai cái tên cho cùng một thứ, vì cuộc tranh luận năm xưa để lại dấu vết trên cả hai người.
Viết rõ giá trị trước khi thay vào .
Giám khảo chấm theo từng bước, nên chỉ cần ghi " mol electron" là đã có điểm cho ý xác định số electron trao đổi. Ngoài ra cho kết quả ra joule; muốn báo bằng kJ/mol phải chia cho 1000, và đây là chỗ mất điểm đơn vị rất phổ biến. Kết quả dương, phù hợp với âm.
Câu kết luận phải nói đủ hai vế: không thuận lợi và cần điện năng ngoài.
Đề thường hỏi "explain why an external source of electrical energy is required", nên chỉ viết " âm" là chưa đủ ý. Hãy nối thành một câu hoàn chỉnh bằng tiếng Anh: , do đó , do đó phản ứng không thuận lợi về nhiệt động và cần nguồn điện ngoài để cưỡng bức. Chuỗi lập luận này gần như luôn được cho trọn điểm.
Với sơ đồ hạt, hãy đếm hạt trước rồi mới kết luận về chiều phản ứng.
Dạng bài cho hình biểu diễn trước và sau khi đặt hiệu điện thế thường gài đáp án "phản ứng thuận lợi vì có sản phẩm sinh ra". Nhưng sự có mặt của sản phẩm chỉ chứng minh phản ứng đã xảy ra, không chứng minh nó tự xảy ra. Vì vậy hãy luôn hỏi lại: sản phẩm này xuất hiện nhờ nhiệt động học hay nhờ dòng điện ta cấp vào?
Viết theo chiều đề cho, tế bào có và , nghĩa là bạc kim loại không khử được ion một cách tự phát. Muốn có một tế bào galvanic (galvanic cell) hoạt động được, phải đảo chiều: đồng làm anode bị hòa tan thành , ion bị khử bám lên cathode bạc, hiệu điện thế chuẩn đo được là và electron chạy từ điện cực đồng sang điện cực bạc qua mạch ngoài.
Phân hủy nóng chảy là quá trình không tự diễn biến (), nên tế bào chỉ chạy được nhờ hiệu điện thế ngoài; natri lỏng sinh ra ở cathode còn khí clo thoát ra ở anode. Với dòng trong phút, tế bào chuyển electron và tạo được .