AP Statistics
combination

Tổ hợp (combination) là cách chọn k phần tử từ tập n phần tử mà không quan tâm thứ tự, chỉ đếm số nhóm khác nhau có thể tạo ra.
Khi ta chọn phần tử từ một tập gồm phần tử khác nhau, nếu chỉ quan tâm đến việc phần tử nào được chọn chứ không quan tâm thứ tự, ta dùng tổ hợp. Số tổ hợp được ký hiệu là hoặc , và được tính bằng công thức:
Trong đó là giai thừa của , tức tích các số tự nhiên từ đến , còn và là giai thừa của số phần tử được chọn và số phần tử không được chọn. Công thức này cho biết có bao nhiêu nhóm phần tử khác nhau có thể tạo thành từ tập phần tử.
Để lý giải nguồn gốc của công thức trên, ta xuất phát từ việc đếm số cách sắp xếp có thứ tự rồi loại bỏ sự trùng lặp do hoán vị. Cụ thể, có cách sắp xếp tất cả phần tử, nhưng vì thứ tự trong nhóm phần tử không quan trọng, ta chia cho ; tương tự, thứ tự của phần tử còn lại cũng không quan trọng nên ta chia thêm . Do đó, tổ hợp luôn nhỏ hơn hoặc bằng chỉnh hợp, và chỉ bằng nhau khi hoặc .
Không chỉ dừng lại ở lí thuyết, tổ hợp còn xuất hiện thường xuyên trong các bài toán xác suất và thống kê, đặc biệt khi ta cần đếm số kết quả có thể xảy ra trong không gian mẫu. Ví dụ, khi rút 5 lá bài từ một bộ bài chuẩn, ta dùng tổ hợp vì tay bài được coi là giống tay bài . Ngoài ra, tổ hợp còn là nền tảng của phân phối nhị thức (binomial distribution), trong đó mỗi lần thử nghiệm chỉ có hai kết quả; vì vậy, khi quan tâm đến số lần thành công trong lần thử độc lập, ta lại một lần nữa cần đến tổ hợp để đếm các trường hợp có thể xảy ra.
Trực giác: Chọn ba người trong lớp đi dọn thư viện: dù bạn chọn Anh rồi đến Bình hay chọn Bình trước rồi mới đến Anh, nhóm làm việc cuối cùng vẫn là một.
Dùng khi cần đếm số cách chọn phần tử từ tập phần tử mà thứ tự chọn không quan trọng — chẳng hạn tính số tay bài, số cách chọn ủy ban, hoặc tính hệ số trong phân phối nhị thức (binomial distribution).
Trong đó
thế kỷ 13 đến thế kỷ 17Leonardo FibonacciJordanus de NemoreBlaise PascalGottfried LeibnizJacob Bernoulli
Tổ hợp không quan tâm thứ tự, hoán vị (permutation) thì có.
Đây là ranh giới bị nhầm nhiều nhất khi đếm. Nếu đổi chỗ hai phần tử mà kết quả vẫn là cùng một nhóm thì phải dùng tổ hợp ; nếu đổi chỗ tạo ra kết quả khác (xếp hạng nhất – nhì – ba, thứ tự phỏng vấn) thì phải dùng hoán vị. Vì nên chọn nhầm sẽ làm đáp số lớn gấp lần. Do đó trước khi bấm máy, hãy tự hỏi một câu duy nhất: thứ tự có làm đổi kết quả không?
Số nghiệm thức trong thiết kế thí nghiệm không tính bằng công thức tổ hợp.
Khi đề nói "the nine combinations of three price levels and three packaging types", chữ combination ở đây là các bộ phối hợp mức của hai yếu tố, tức nghiệm thức (treatment) của một thiết kế giai thừa (factorial design). Nhiều học sinh phản xạ đi tính và ra con số vô nghĩa. Quy tắc đúng là nhân số mức của các yếu tố với nhau, rồi trừ đi những bộ bị loại bỏ. Chẳng hạn ba mức thời gian và hai mức nhiệt độ cho bộ, bỏ bộ 90 phút – 425 độ thì còn 5 nghiệm thức.
Chữ "combination" trong đề suy luận thống kê thường chỉ là "cặp giá trị".
Ở câu hỏi kiểu "which combination of sample proportion and sample size would result in the smallest -value", đề chỉ đang liệt kê các cặp để bạn so sánh, hoàn toàn không dính gì tới phép đếm. Việc phải làm là thay từng cặp vào và chọn cặp cho lớn nhất, vì trị tuyệt đối của càng lớn thì giá trị càng nhỏ. Nhờ đó bạn thấy hai yếu tố cùng có lợi: càng xa và càng lớn.
Trong phân phối nhị thức, đếm vị trí của các lần thành công, không phải xác suất.
Công thức gồm hai phần khác hẳn nhau về vai trò. Phần là xác suất của một dãy kết quả cụ thể, còn hệ số nhị thức (binomial coefficient) đếm xem có bao nhiêu dãy như vậy. Bỏ quên hệ số này là lỗi kinh điển khiến xác suất nhỏ hơn thực tế nhiều lần. Ngược lại, nếu đề hỏi xác suất của đúng một thứ tự cụ thể (ví dụ hai lần đầu thành công rồi ba lần sau thất bại) thì lại không được nhân hệ số.
Quiz câu thật từ ngân hàng đề
Vài câu thật gắn đúng khái niệm này, chấm ngay kèm giải thích từng đáp án — hệ thống ghi nhớ bạn nắm tới đâu.
Biên soạn bởi DucklingStudy, bản quyền thuộc DucklingStudy. Xuất bản .
Việc đếm số cách chọn ra một nhóm vật đã được nhiều nền văn minh cổ quan tâm, nhưng ở châu Âu thì mạch nghiên cứu bắt đầu từ thế kỷ 13. Fibonacci mang các ý tưởng của toán học Ả Rập và Ấn Độ vào lục địa này qua cuốn Liber Abaci, còn Jordanus de Nemore là người đầu tiên xếp các hệ số nhị thức (binomial coefficients) thành hình tam giác. Cũng cách sắp xếp ấy xuất hiện ở Trung Đông năm 1265 và ở Trung Quốc khoảng năm 1300, và ngày nay ta gọi nó là tam giác Pascal (Pascal's triangle). Đến thế kỷ 17, khi Pascal trao đổi thư từ với Pierre de Fermat năm 1654 về các bài toán may rủi, phép đếm này trở thành công cụ nền của lý thuyết xác suất.
Vì sao mang đúng cái tên này? Cái tên nhấn mạnh đúng chỗ khác biệt của khái niệm: một tổ hợp là một nhóm được gộp lại, nên thứ tự lấy ra không còn ý nghĩa. Nếu ta chọn hai vật từ nhóm thì và chỉ là một tổ hợp duy nhất, và tất cả các tổ hợp gồm hai vật là , , . Chính vì vậy nó tách hẳn khỏi hoán vị (permutations) — thuật ngữ mà Jacob Bernoulli thường được ghi công đặt ra không lâu sau đó, dù có ý kiến truy về Thomas Strode ở thế kỷ 17. Bản thân chữ "combinations" được Pascal và Leibniz dùng theo nghĩa chuyên môn từ thế kỷ 17, và tiếng Việt dịch sát ý gộp nhóm ấy thành "tổ hợp".
Chia cho k! — nhìn số cách xếp thứ tự biến mất, chỉ còn tổ hợp
Kéo tham số, thấy khái niệm chuyển động — mở khoá bằng tài khoản 0đ.
Bấm máy bằng nCr và nPr, nhưng phải viết rõ đang dùng cái nào.
Trên máy tính, các lệnh nằm ở MATH → PRB. Khi trình bày tự luận, hãy ghi ký hiệu kèm một câu ngắn giải thích 120 đếm cái gì, vì giám khảo chấm theo lập luận chứ không theo con số trần. Một dòng "vì thứ tự không quan trọng nên dùng tổ hợp" thường đủ để giữ điểm.
Với câu thiết kế thí nghiệm, đếm nghiệm thức trước khi đọc các phương án.
Hãy tự xác định số nghiệm thức bằng phép nhân, kiểm tra xem đề có loại bỏ bộ nào không, rồi mới so với các lựa chọn. Sau đó nhớ nêu đủ hai chữ khóa khi mô tả thiết kế: gán ngẫu nhiên (random assignment) các nghiệm thức cho các đơn vị thí nghiệm, và số đơn vị cho mỗi nghiệm thức phải bằng nhau. Thiếu chữ "ngẫu nhiên" là mất điểm dù ý tưởng đúng.
Đọc kỹ chữ "combination" trong đề: có khi nó không phải phép đếm.
Trước khi chọn công cụ, hãy xem đề đang yêu cầu đếm số cách hay chỉ đang liệt kê các bộ giá trị để so sánh. Nếu sau chữ đó là danh sách các cặp số kèm cỡ mẫu, đây là câu suy luận và bạn cần tính thống kê kiểm định, không cần công thức tổ hợp nào cả.
Nghiên cứu có 5 tổ hợp nhiệt độ – thời gian được đem thử: 160°C–25 phút, 160°C–35 phút, 180°C–25 phút, 180°C–35 phút và 200°C–25 phút; tổ hợp 200°C–35 phút bị loại nên tổng số nghiệm thức giảm từ 6 xuống 5. Ba mươi mẻ bột được đánh số và gán ngẫu nhiên sao cho mỗi tổ hợp nhận đúng 6 mẻ, sau đó so sánh điểm chất lượng bánh trung bình giữa năm nhóm để tìm cách nướng tốt nhất.
Có cách chọn ra 3 vị trí hỏng trong 8 bóng đèn được kiểm tra. Nhân 56 với xác suất của mỗi kịch bản, ta được xác suất có đúng 3 bóng hỏng trong 8 bóng lấy ngẫu nhiên xấp xỉ , tức khoảng 3,3%.